mở đầu cho thời kỳ cực thịnh của đạo Phật tại Việt Nam kéo dài 400 năm. Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp CHMTK18 - Năm 1069: Thành lập Thiền Phái Thảo Đƣờng do ba vua nhà Lý kiêm thiền sƣ là Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. - Năm 1299: Thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Thiền phái Phật giáo của Việt Nam đầu tiên của Việt Nam theo hƣớng nhập thế do Phật Hoàng Trần Nhân Tông khởi xƣớng. - Năm 1400: Nhà Trần mất; Nhà Hậu Lê tôn Nho học làm quốc giáo; Phật học không còn vị trí chính thức.
- Thế kỷ XVII: hai dòng Thiền Lâm Tế và Tào Động đƣợc truyền từ Trung Hoa, phát triển tại Đàng Trong và sau đó ra Đàng Ngoài. - Năm 1858: Pháp xâm lƣợc Việt Nam; đạo Phật thêm một lần suy thoái do bối cảnh chính trị diễn ra trong hơn 100 năm. - Năm 1981, Đại hội các tổ chức Phật giáo đã đƣợc tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội một tổ chức mới ra đời, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là hợp nhất của 9 tổ chức: 1. Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam 2.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất 3. Giáo Hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam 4. Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam 5. Ban liên lạc Phật giáo Yêu nƣớc 6.
Giáo hội Thiên thai giáo Quán tông 7. Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam 8. Hội đoàn kết Sƣ sãi Yêu nƣớc Tây Nam Bộ 9. Hội Phật học Nam Việt.
Nguồn: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Phật giáo Việt Nam. Đặc điểm, cơ cấu tổ chức và phương châm hoạt động của Phật giáo Việt Nam Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp CHMTK18 Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam đƣợc xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống Hệ phái, cũng nhƣ các pháp môn và phƣơng tiện tu hành đúng chính pháp. Phƣơng châm hoạt động của Giáo hội là: "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội". Mục đích của Giáo hội là điều hoà hợp nhất các hệ phái Phật giáo Việt Nam trong cả nƣớc để hộ trì hoằng dƣơng Phật pháp; tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ Dân tộc, góp phần xây dựng hoà bình, an lạc cho thế giới.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni, phật tử Việt Nam trong và ngoài nƣớc, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trụ sở của Giáo hội đặt tại chùa Quán Sứ, số 73 phố Quán Sứ, Hà Nội. Hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại có 3 cấp: Cấp Trung ƣơng gồm có Hội đồng Chứng minh (HĐCM) và Hội đồng trị sự (HĐTS); cấp tỉnh, thành phố có Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo với số lƣợng không quá 47 thành viên. Ở các quận, huyện có Ban Đại diện Phật giáo với số lƣợng không quá 15 thành viên.
Những xã phƣờng, thị trấn có nhiều tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm phật đƣờng và tăng ni, cƣ sĩ, phật tử thì Ban Đại diện Phật giáo giới thiệu để Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội bổ nhiệm một vị đại diện xã, phƣờng, thị trấn hay liên phƣờng, xã, thị trấn tại địa phƣơng để giúp Ban Đại diện Phật giáo quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh liên hệ với các cơ sở của Giáo hội về mặt sinh hoạt tín ngƣỡng. Hội đồng Chứng minh (HĐCM) gồm các vị hoà thƣợng tiêu biểu của các hệ phái Phật giáo Việt Nam, có 70 tuổi đời, 50 tuổi đạo trở lên, không giới hạn số lƣợng, do Hội đồng Trị sự giới thiệu và đƣợc Đại hội Phật giáo toàn quốc suy tôn. Các vị hoà thƣợng trong HĐCM tại vị trọn đời, trƣờng hợp đặc biệt mới phải phế vị do quyết định của HĐCM với đa số quá bán biểu quyết tán thành. HĐCM suy cử một Ban Thƣờng trực gồm có Đức Pháp chủ, các vị phó Pháp chủ, các vị Giám luật, một vị Chánh Thƣ ký, các vị phó Thƣ ký.
HĐCM có nhiệm vụ: Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp CHMTK18 Chứng minh các Hội nghị Trung ƣơng và Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam; hƣớng dẫn và giám sát các hoạt động của Giáo hội về mặt đạo pháp và giới luật; phê chuẩn tấn phong chức vị giáo phẩm hoà thƣợng, thƣợng toạ, ni trƣởng, ni sƣ của Giáo hội; ban hành Thông điệp về Phật đản, Thƣ chúc Tết và tình hình GHPGVN trong những tình huống đặc biệt. Nhiệm kỳ của Ban Thƣờng trực HĐCM là 5 năm gắn với nhiệm kỳ của HĐTS. Hội đồng Trị sự (HĐTS) là cơ quan điều hành cao nhất của Giáo hội. Theo quy định hiện tại, HĐTS có thành phần tối đa là 147 thành viên, gồm các vị hoà thƣợng, thƣợng toạ, đại đức, tăng ni và cƣ sĩ của Giáo hội do Ban Thƣờng trực HĐTS tiền nhiệm đề cử và đƣợc Đại hội đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy cử.
Thành viên của HĐTS có thể bị bãi miễn nếu quá bán tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành. Ban Thƣờng trực HĐTS có tối đa không quá 45 thành viên gồm Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch thƣờng trực, các phó Chủ tịch, Tổng Thƣ ký, hai phó Tổng Thƣ ký, trƣởng - phó các ban, viện trực thuộc, các Uỷ viên Thƣ ký, Uỷ viên Pháp chế, Uỷ viên Kiểm soát, 2 Uỷ viên Thủ quỹ và các Uỷ viên Thƣờng trực. HĐTS hiện có 2 Văn phòng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; có 10 ban ngành, viện trực thuộc (Ban Tăng sự, Ban Giáo dục Tăng ni, Ban Hoằng pháp, Ban Văn hoá, Ban Từ thiện xã hội, Ban Nghi lễ, Ban hƣớng dẫn phật tử, Ban Phật giáo Quốc tế, Ban Kinh tế Tài chính, Viện nghiên cứu Phật học). Dƣới cấp tỉnh có Ban Trị sự Phật giáo của tỉnh, thành phố và cấp huyện có Ban Đại diện Phật giáo của huyện, thị, quận.
Nhiệm kỳ của HĐTS, Ban Trị sự và Ban Đại diện Phật giáo là 5 năm. Hiện nay, đồng bào theo đạo Phật ở nƣớc ta có khoảng trên 10 triệu ngƣời (tính số ngƣời đã quy y); với gần 46.000 chức sắc, nhà tu hành (cả Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ); khoảng 15.000 cơ sở thờ tự, 43 cơ sở đào tạo (Đại học; Cao đẳng và Trung cấp) và 50 lớp Sơ cấp Phật học đã giảng dạy, đào tạo, bồi dƣỡng hàng chục ngàn tăng ni sinh theo học có kết quả. Gần 400 tăng ni sinh đƣợc Giáo hội cử đi đào tạo cao học, tiến sĩ Phật học ở nhiều nƣớc trong khu vực và trên thế giới; Giáo hội hiện Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp CHMTK18 có 126 Tuệ Tĩnh đƣờng, hơn 1000 lớp học tình thƣơng và nhiều cơ sở từ thiện xã hội khác. Quan hệ quốc tế của Giáo hội tiếp tục đƣợc mở rộng với hàng trăm hoạt động thăm viếng, hội thảo khoa học, giao lƣu trao đổi về Phật sự và văn hoá, từ thiện xã hội.
với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, với sự đăng cai của Chính phủ, Giáo hội đã phối hợp với Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC) tổ chức thành công rực rỡ Đại lễ Vesak năm 2008 tại Việt Nam. Các hoạt động đó đã góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam với bạn bè quốc tế. Một số nét về truyền thông môi trƣờng.
Khái niệm về truyền thông, truyền thông môi trường * Khái niệm về truyền thông Truyền thông tồn tại từ khi có con ngƣời, nhƣng chỉ gần đây mới đƣợc nghiên cứu về mặt khoa học. Lý luận thông tin đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu truyền thông. Truyền thông đƣợc nghiên cứu theo lý luận ngôn ngữ học tâm lý, việc hiểu ngôn ngữ gắn liền với cơ chế tri giác. Xã hội học quan tâm tới tác động của cấu trúc xã hội, quan hệ xã hội trong quá trình truyền đạt, tiếp nhận thông tin.
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tƣơng tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tƣơng tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin đƣợc truyền từ ngƣời gửi tới ngƣời nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết ngƣời gửi và ngƣời nhận.
Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một ngƣời hiểu những gì ngƣời khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tƣợng, và học đƣợc cú pháp của ngôn ngữ. Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp CHMTK18 Truyền thông thƣờng gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đƣa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này đƣợc thể hiện qua nhiều hình thức nhƣ động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính ngƣời/tổ chức gửi đi thông tin. Mô hình truyền thông đơn giản Truyền thông khác với thông tin. Nếu nhƣ trong quá trình thông tin, thông tin chỉ đi theo một chiều từ ngƣời truyền đi đến ngƣời nhận tin thì trong quá trình truyền thông có sự kết hợp thông tin và kinh nghiệm theo hai chiều “từ trên xuống và từ dƣới lên”. Sự cùng tham gia của ngƣời nhận tin và ngƣời truyền thông.
Thông tin thích hợp cho các mục đích nhƣ cung cấp dữ liệu, phổ biến kiến thức, phản hồi từ ngƣời nhận đến ngƣời gửi là hai yếu tố đặc biệt quan trọng của truyền thông.