phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến BĐKH; Khái quát tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam; Những ảnh hƣởng của BĐKH đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân tỉnh Hƣng Yên; Truyền thông – Một ƣu tiên mang tính toàn cầu trong ứng phó với BĐKH. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng các nhóm phƣơng pháp: Nghiên cứu lí luận; nghiên cứu thực tiến (Điều tra bằng phiếu điều tra; TOT; thực nghiệm) Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Công tác truyền thông là thế mạnh của Hội Nông dân tỉnh Hƣng Yên; tác giả đã điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra để đánh giá mức độ tiếp nhận thông tin; nguồn cung cấp thông tin và nhận thức về Biến đổi khí hậu đối với cán bộ Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện, xã và các Hội viên của Hội Nông dân cấp cơ sở.
Từ đó, xây dựng nội dung đào tạo truyền thông viên là cán bộ chuyên môn của Hội Nông dân tỉnh về biến đổi khí hậu; Sau đó tổ chức truyền thông thí điểm tại Hội Nông dân xã Tiên Tiến, để đánh giá tính cần thiết của kiến thức về Biến đổi khí hậu và hiệu quả truyền thông. Đề xuất 06 giải pháp nâng cao vai trò của Hội Nông dân tỉnh Hƣng Yên trong truyền thông về Biến đổi khí hậu. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.
Một số khái niệm, định nghĩa Thời tiết: Đƣợc biểu hiện bằng tra ̣ng thái nhấ t thời của khí quyể n ta ̣i mô ̣t điạ điể m nhấ t đinh ̣ nhƣ: nắng, mƣa, mây, gió, nóng lạnh., thƣờng thay đổi nhanh chóng trong một thời gian ngắ n: mô ̣t ngày, mô ̣t buổ i hoă ̣c ngắ n hơn [27]. Khí hậu: Tổng hợp của thời tiết đƣợc đặc trƣng bởi các trị số thống kê dài hạn của các yếu tố khí tƣợng biến động trong một khu vực địa lý. Thời kỳ trung bình thƣờng là vài thập kỷ. Tổ chức khí tƣợng thế giới (WMO) định nghĩa: "Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi các thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó "[27].
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó (ví dụ nhƣ một tỉnh, một nƣớc hay một châu lục). Khi ta nói, khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, điều đó có nghĩa là nƣớc ta thƣờng xuyên có nhiệt độ trung bình hàng năm cao và lƣợng mƣa trung bình hàng năm lớn, đồng thời có sự thay đổi theo mùa. Khí hậu thƣờng ít thay đổi và có tính ổn định tƣơng đối, còn thời tiết thay đổi mạnh [15]. Khí nhà kính: Kết quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lƣợng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất đƣợc gọi là Hiệu ứng nhà kính [15].
Biến đổi khí hậu: Theo UNFCCC (1994) thì sự BĐKH đƣợc quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào BĐKH tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc. Như vậy, BĐKH là sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu, trong đó trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ, thậm chí thế kỷ (Ví dụ: ấm lên, lạnh đi. Sự biến động của khí hậu dài hạn sẽ dẫn tới BĐKH. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [35]. Truyền thông: Là một quá trình trong đó ngƣời làm công tác truyền thông (truyền thông viên) truyền đạt các thông tin (thông điệp truyền thông) tới ngƣời nhận thông tin (đối tƣợng truyền thông) nhằm mục đích nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của ngƣời nhận thông tin thông qua các cách tiếp cận, hình thức và phƣơng tiện khác nhau [16]. Truyền thông về BĐKH: Là một loại truyền thông môi trƣờng. Do đó, truyền thông về BĐKH cũng có những đặc điểm chung với truyền thông môi trƣờng, đó là: Các vấn đề môi trƣờng có tác động, ảnh hƣởng đến mọi ngƣời, mọi ngành, mọi nghề, mọi mặt của đời sống xã hội của con ngƣời, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại mà cả đến các thế hệ tƣơng lai.
Phạm vi tác động, ảnh hƣởng của các vấn đề môi trƣờng đến điều kiện tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội thay đổi rất rộng, từ cá nhân, xóm, thôn, bản đến quốc gia, khu vực và toàn cầu. Những tác động và hậu quả tác động của sự thay đổi môi trƣờng do con ngƣời gây ra đến các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con ngƣời không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng nhận ra, xác định, đánh giá đƣợc, mặt khác, nó không chỉ có những hậu quả trƣớc mắt mà có cả những hậu quả tiềm tàng trong tƣơng lai, có khi phải đến các thế kỷ sau (thí dụ: biến đổi khí hậu có tác động tiềm tàng đến nhiều thế hệ sau) [16]. Biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trƣớc hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nƣớc biển dâng là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21.
Thiên tai và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nƣớc biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chƣa từng có và đang là mối lo ngại của nhiều quốc gia trên thế giới. Lƣợng khí thải ra trong quá trình sử dụng phân bón tổng hợp chiếm 13% lƣợng phát thải nông nghiệp vào năm 2011 và là nguồn phát thải khí tăng nhanh nhất trong nông nghiệp với mức tăng 37% kể từ năm 2001. Khí nhà kính từ quá trình sinh học ở các cánh đồng lúa tạo ra khí mê-tan chiếm 10% tổng lƣợng khí thải nông nghiệp, trong khi khí thải từ việc đốt các thảo nguyên chiếm 5%. Theo số liệu của FAO, trong năm 2011, 44% khí nhà kính liên quan đến nông nghiệp phát sinh ở châu Á, tiếp theo là Mỹ (25%), châu Phi (15%), châu Âu (12%), châu Đại dƣơng (4%).
Tỷ lệ này là tƣơng đối ổn định trong thập kỷ qua. Trƣớc đó vào năm 1990, phát thải khí nhà kính từ ngành nông nghiệp của châu Á chiếm 38%, thấp hơn so với hiện nay, trong khi tỷ lệ này của khu vực châu Âu là lớn hơn nhiều (21%). Các dữ liệu mới của FAO cũng cung cấp một cái nhìn chi tiết về lƣợng khí thải từ việc sử dụng các nguồn nhiên liệu truyền thống trong ngành nông nghiệp, bao gồm cả việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và điện để vận hành máy móc nông nghiệp, máy bơm thủy lợi và các tàu đánh cá. Lƣợng khí thải này vƣợt quá 785 triệu tấn CO2 trong năm 2010, tăng 75% kể từ năm 1990 [34].
Việc xây dựng các chiến lƣợc ứng phó với sự gia tăng khí thải ngành nông nghiệp sẽ yêu cầu những đánh giá chi tiết về dữ liệu phát thải và phƣơng án giảm thiểu lƣợng phát thải. Dữ liệu mới của FAO đại diện cho nguồn thông tin toàn diện nhất về sự đóng góp của ngành nông nghiệp đối với quá trình nóng lên toàn cầu. Trƣớc đây, việc thiếu thông tin khiến các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách khó khăn trong việc đƣa ra các quyết định chiến lƣợc trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và điều này đã cản trở những nỗ lực để giảm thiểu phát thải nông nghiệp. Theo Báo cáo Phát triển con ngƣời năm 2007/2008 của UNDP thì ngƣời dân ở những vùng nông thôn nghèo, ngƣ dân vùng ven biển có nguy cơ bị tổn thƣơng cao do BĐKH [31].
BĐKH sẽ ảnh hƣởng trực tiếp tới những tài nguyên trong hệ sinh thái mà họ phải dựa vào để gìn giữ sinh kế (nhƣ các cây trồng, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thủy sản, nguyên liệu, nhiên liệu, v. Hơn thế nữa, các thành tựu đạt đƣợc của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ cũng có thể bị huỷ hoại [37]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7oC, mực nƣớc biển đã dâng khoảng 20 cm. Hiện tƣợng El-Nino, La- Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam.
BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt. Theo tính toán, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3oC và mực nƣớc biển có thể dâng 1 m vào năm 2100. Theo Bộ TN&MT, nếu mực nƣớc biển dâng 1 m, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm, trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu nhƣ hoàn toàn [4]. Xu thế biến đổi của nhiệt độ và lƣợng mƣa là rất khác nhau trên các vùng ở Việt Nam, lƣợng mƣa có xu hƣớng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ [21].
Nhiệt độ tháng 1 (tháng đặc trƣng cho mùa đông), nhiệt độ tháng 7 (tháng đặc trƣng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nƣớc. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo. Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3-1,5oC/50 năm). Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng 1 tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6-0,9oC/50 năm).
Tính trung bình cho cả nƣớc, nhiệt độ mùa đông ở nƣớc ta đã tăng lên 1,2oC/50 năm.