Tổng quan nghiên cứu

Nhóm yếu thế tại Việt Nam chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu dân số và lực lượng lao động. Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đến năm 2011 cả nước có gần 13 triệu lao động thuộc nhóm yếu thế, tương đương gần 24% lực lượng lao động, trong đó 4,2 triệu người khuyết tật, 6,5 triệu lao động nghèo và khoảng 1 triệu lao động di cư; 80% tập trung ở khu vực nông thôn. Cả nước có hơn 6 triệu người khuyết tật, tăng khoảng 1 triệu người so với mức 5,3 triệu năm 2009. Đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 12 triệu người, chiếm 14% dân số. Tính đến tháng 6/2015, số người nhiễm HIV còn sống được báo cáo khoảng 227.000 trường hợp, với trung bình 12.000 ca phát hiện mới mỗi năm.

Nghịch lý đặt ra: nhóm công chúng đông đảo này lại ít được phản ánh tương xứng trên sóng truyền hình quốc gia. Luận văn thạc sĩ Báo chí "Chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế của Đài Truyền hình Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Xoan, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Chí Trung, giải quyết chính khoảng trống này.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba nhóm: khảo sát đặc điểm và nội dung các chương trình chuyên đề về người yếu thế trên sóng VTV; đánh giá hiệu quả tác động tới công chúng; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng. Phạm vi khảo sát tập trung vào ba chương trình đại diện cho ba nhóm đối tượng khác nhau: "Cuộc sống vẫn tươi đẹp" (người khuyết tật, VTV4), "Trái tim cho em" (trẻ em mắc tim bẩm sinh, VTV1) và "Tạp chí Dân tộc và Phát triển" (đồng bào dân tộc thiểu số, VTV1 và VTV5). Thời gian khảo sát kéo dài 12 tháng, từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2016.

Ý nghĩa của công trình nằm ở chỗ đây là nghiên cứu đầu tiên tiếp cận riêng biệt mảng chương trình truyền hình chuyên đề dành cho nhóm yếu thế, thay vì chỉ dừng ở một nhóm đối tượng hẹp hoặc một loại hình báo chí đơn lẻ như các công trình trước đó.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng đồng thời hai hệ lý thuyết. Thứ nhất là lý thuyết về nhóm yếu thế trong xã hội học, dựa trên định nghĩa của Liên hợp quốc và cách phân loại của UNESCO. UNESCO xác định nhóm thiệt thòi bao gồm người ăn xin, nạn nhân tội phạm, người tàn tật, thanh thiếu niên khó khăn, người cao tuổi, người nghèo, tù nhân, người thất nghiệp, người lang thang cơ nhỡ, người tị nạn. Công trình "Thích ứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay" của GS.TS Vũ Dũng cung cấp nền tảng về đặc điểm tâm lý và rào cản hòa nhập.

Thứ hai là lý thuyết truyền thông đại chúng với các mô hình truyền thông ứng dụng. Tác giả hệ thống sáu mô hình thực tiễn: mô hình tuyên truyền (truyền thông một chiều từ trên xuống), mô hình truyền thông thay đổi hành vi, mô hình khuếch tán (thông tin lan tỏa qua nhóm tiên phong và chuyên gia), mô hình giáo dục – giải trí, mô hình tham gia (người yếu thế làm chủ thể chương trình) và mô hình tiếp thị xã hội.

Ba khái niệm công cụ được làm rõ. "Người yếu thế" là nhóm xã hội có vị thế thấp hơn, gặp rào cản hữu hình và vô hình cản trở hòa nhập cộng đồng. "Chương trình truyền hình chuyên đề" mang ba đặc trưng: tính định hướng chuyên sâu, tính định kỳ và có công chúng mục tiêu xác định. "Công chúng chuyên biệt" là nhóm khán giả có nhu cầu thông tin riêng, chủ động lựa chọn nội dung thay vì tiếp nhận thụ động.

Hệ tiêu chí đánh giá tác phẩm truyền hình gồm sáu thành tố: đề tài, chi tiết, chính kiến tác giả, thông điệp – tư tưởng, cách vận dụng ngôn ngữ – kết cấu – thể loại, và hiệu quả tác động xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phối hợp bốn phương pháp. Phương pháp nghiên cứu tài liệu khai thác sách chuyên ngành, giáo trình báo chí truyền hình, kỷ yếu hội thảo Công tác xã hội và cổng thông tin của các bộ ngành liên quan.

Phương pháp phân tích nội dung được áp dụng trên toàn bộ số phát sóng của ba chương trình trong 12 tháng, mã hóa theo đối tượng phản ánh, thời lượng, mô hình truyền thông và hình thức thể hiện.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với cỡ mẫu dự kiến 300 phiếu, phát cho công chúng trên địa bàn Hà Nội theo cách chọn mẫu thuận tiện có phân nhóm theo đối tượng thụ hưởng. Cỡ mẫu này đủ cho phân tích tần suất và so sánh tỷ lệ giữa các nhóm khán giả ở mức tin cậy thông thường trong nghiên cứu báo chí học ứng dụng.

Phương pháp phỏng vấn sâu thực hiện với phóng viên, biên tập viên, chủ nhiệm chương trình và một số khán giả thường xuyên theo dõi, nhằm bổ sung dữ liệu định tính giải thích cho các con số định lượng. Lựa chọn kết hợp định lượng và định tính xuất phát từ đặc thù đối tượng: hiệu quả tác động của truyền thông tới nhóm yếu thế không đo được đầy đủ bằng rating mà cần dữ liệu chiều sâu về thay đổi nhận thức.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất liên quan tới sự mất cân đối trong cơ cấu đối tượng phản ánh. Kết quả khảo sát cho thấy thời lượng dành cho các nhóm yếu thế phân bổ rất không đều: đồng bào dân tộc thiểu số và trẻ em bệnh hiểm nghèo chiếm phần lớn, trong khi các nhóm như người nhiễm HIV, cộng đồng LGBT, nạn nhân bạo lực gia đình gần như vắng bóng trong khung chuyên đề. Dữ liệu này được trình bày qua biểu đồ tròn về đối tượng phản ánh và biểu đồ cột về tỷ lệ thời lượng phát sóng theo nhóm.

Phát hiện thứ hai là tỷ trọng khiêm tốn của mảng chuyên đề về người yếu thế trong tổng thể khung phát sóng VTV1. So với khối lượng chương trình giải trí và truyền hình thực tế ra đời liên tục, các chương trình chuyên đề chỉ chiếm một phần nhỏ, cho thấy mức độ đầu tư chưa tương xứng với quy mô gần 24% lực lượng lao động thuộc nhóm yếu thế.

Phát hiện thứ ba nằm ở tương quan giữa khung giờ phát sóng và lượng người xem. Biểu đồ tỷ lệ người xem theo khung giờ trên VTV1 cho thấy các chương trình chuyên đề thường bị xếp vào khung giờ thấp điểm, kéo theo số lượng người xem quý 4/2016 ở mức thấp hơn đáng kể so với chương trình cùng kênh phát trong khung giờ vàng. Đây là nguyên nhân trực tiếp hạn chế hiệu quả lan tỏa.

Phát hiện thứ tư là sự khác biệt về mô hình truyền thông giữa ba chương trình. "Tạp chí Dân tộc và Phát triển" vận hành chủ yếu theo mô hình tuyên truyền kết hợp khuếch tán, dùng tiếng nói chuyên gia nông nghiệp giới thiệu mô hình sản xuất như trồng quế tại Lai Châu. "Trái tim cho em" theo mô hình tiếp thị xã hội, gắn phát sóng với hoạt động vận động quyên góp và hỗ trợ phẫu thuật. "Cuộc sống vẫn tươi đẹp" tiệm cận mô hình tham gia, để chính người khuyết tật giữ vai trò chủ thể.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng trên đến từ ba phía. Về nguồn lực, các chương trình chuyên đề đòi hỏi thời gian sản xuất dài hơn, chi phí đi lại tới vùng sâu vùng xa lớn hơn, trong khi định mức đầu tư nhân lực và vật lực chưa được ưu tiên. Về sức ép thị trường, cơ chế đánh giá theo rating khiến khung giờ tốt được dành cho chương trình giải trí. Về nghiệp vụ, việc chọn thông điệp cho nhóm yếu thế đòi hỏi sự thấu hiểu tâm lý mà không phải phóng viên nào cũng tích lũy đủ.

So với các nghiên cứu đi trước, kết quả này bổ sung một chiều cạnh mới. Luận văn "Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay" của tác giả Vũ Thị Thu Ngà khảo sát bốn tờ báo in và chỉ dành chưa đầy một trang cho truyền hình. Luận văn "Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam" giới hạn ở người dân tộc miền núi. Công trình này lần đầu đặt ba nhóm đối tượng khác nhau vào cùng một khung tiêu chí đánh giá, cho phép so sánh chéo hiệu quả của từng mô hình truyền thông.

Ý nghĩa thực tiễn nằm ở chỗ kết quả chỉ rõ mô hình tham gia và mô hình tiếp thị xã hội tạo hiệu ứng cộng đồng mạnh hơn mô hình tuyên truyền thuần túy. Thực tế cho thấy nhiều trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được hỗ trợ viện phí và phẫu thuật, nhiều học sinh vùng cao có thêm quần áo ấm và lớp học kiên cố nhờ hiệu ứng từ phóng sự truyền hình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường đầu tư nhân lực và vật lực cho các chương trình chuyên đề. Đài cần bố trí ê-kíp chuyên trách ổn định thay vì luân chuyển, đồng thời tổ chức tập huấn kỹ năng tiếp cận nhóm yếu thế cho phóng viên, biên tập viên ít nhất hai đợt mỗi năm. Chủ thể thực hiện là ban biên tập cùng bộ phận đào tạo của Đài, với mục tiêu nâng tỷ lệ phóng viên được đào tạo chuyên sâu lên trên một nửa nhân sự tham gia sản xuất trong vòng hai năm.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác quảng bá chương trình. Cần xây dựng lịch trailer cố định trên các kênh chủ lực, kết hợp quảng bá trên nền tảng số và mạng xã hội của Đài, hướng tới mục tiêu tăng lượng người xem so với mức quý 4/2016 ít nhất một phần ba sau 12 tháng triển khai. Chủ thể thực hiện là bộ phận truyền thông – marketing phối hợp với tổ chức sản xuất từng chương trình.

Thứ ba, đổi mới cách thức thể hiện. Thay thế lối tuyên truyền một chiều bằng các định dạng talkshow, truyền hình thực tế và phóng sự nhân vật, trong đó người yếu thế giữ vai trò chủ thể chứ không phải đối tượng được thương hại. Lộ trình đề xuất là thử nghiệm ít nhất một định dạng mới cho mỗi chương trình trong sáu tháng đầu, đánh giá phản hồi trước khi nhân rộng.

Thứ tư, khu biệt đối tượng và mở rộng sang các nhóm chưa được phản ánh. Cần bổ sung nội dung dành cho người nhiễm HIV, cộng đồng LGBT, nạn nhân bạo lực gia đình và người cao tuổi neo đơn, đưa số nhóm đối tượng được phản ánh thường xuyên tăng thêm ít nhất hai nhóm trong một năm phát sóng.

Thứ năm, xã hội hóa sản xuất và đa nền tảng hóa. Ban biên tập cần chủ động hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, câu lạc bộ tình nguyện để chia sẻ nguồn lực và chất liệu thực tế, đồng thời phát hành lại nội dung dưới dạng clip ngắn, podcast và bản có phụ đề, ngôn ngữ ký hiệu, tiếng dân tộc, bảo đảm mỗi số phát sóng có ít nhất một phiên bản tiếp cận đặc thù.

Thứ sáu, thiết lập cơ chế khảo sát và đánh giá phản hồi công chúng định kỳ, tối thiểu mỗi quý một đợt, để hệ thống đề tài được xây dựng theo nhu cầu thực của khán giả thay vì theo cảm tính người sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là phóng viên, biên tập viên và tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề tại VTV và các đài phát thanh – truyền hình địa phương. Bộ sáu tiêu chí đánh giá tác phẩm và năm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp khi tác nghiệp với người yếu thế có thể dùng trực tiếp làm checklist trước khi duyệt phát sóng, đặc biệt là nguyên tắc xin phép sử dụng hình ảnh với trẻ em và người bệnh hiểm nghèo.

Nhóm thứ hai là học viên cao học và sinh viên ngành Báo chí, Truyền thông, Công tác xã hội. Phần hệ thống hóa sáu mô hình truyền thông ứng dụng cùng cách vận hành thực tế của từng mô hình trong ba chương trình cụ thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đề tài về công chúng chuyên biệt hoặc truyền thông thay đổi hành vi.

Nhóm thứ ba là cán bộ hoạch định chính sách thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc và các ban chỉ đạo giáo dục trẻ em khuyết tật đã hình thành tại 63 tỉnh thành. Dữ liệu về khoảng trống phản ánh giúp xác định nhóm đối tượng nào đang thiếu kênh truyền thông chính sách, từ đó điều chỉnh cách phổ biến các văn bản như Luật Người khuyết tật hay Nghị định 67/2007/NĐ-CP.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ, câu lạc bộ tình nguyện và doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội. Phân tích về mô hình tiếp thị xã hội qua trường hợp "Trái tim cho em" cho thấy cách gắn kết chiến dịch truyền thông với hoạt động hỗ trợ thực tế để tạo hiệu ứng quyên góp bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Người yếu thế được hiểu như thế nào trong luận văn? Đó là những nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn và vị thế thấp hơn so với các nhóm tương tự, gặp rào cản hữu hình lẫn vô hình cản trở hòa nhập cộng đồng. Tại Việt Nam, nhóm này gồm người nghèo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, nạn nhân chiến tranh, người nhiễm HIV, cộng đồng LGBT, trẻ mồ côi và người mất khả năng lao động. Quy mô ước tính gần 13 triệu lao động, chiếm gần 24% lực lượng lao động cả nước.

Vì sao truyền hình là phương tiện phù hợp nhất với nhóm này? Truyền hình tích hợp hình ảnh động, âm thanh và chữ viết nên đáp ứng được nhiều dạng khiếm khuyết khác nhau: người khiếm thính tiếp nhận qua phụ đề và ngôn ngữ ký hiệu, người khiếm thị tiếp nhận qua âm thanh. Giá thành thiết bị cũng phù hợp với thu nhập người dân vùng sâu vùng xa, nơi khó tiếp cận báo in hay internet. Độ phủ sóng rộng giúp tạo dư luận xã hội nhanh hơn các loại hình khác.

Ba chương trình được khảo sát khác nhau ra sao? "Tạp chí Dân tộc và Phát triển" phát trên VTV1 và VTV5, hướng tới đồng bào dân tộc thiểu số, nặng chức năng tuyên truyền chính sách và phổ biến mô hình sản xuất. "Trái tim cho em" trên VTV1 gắn với vận động hỗ trợ phẫu thuật cho trẻ tim bẩm sinh. "Cuộc sống vẫn tươi đẹp" trên VTV4 để người khuyết tật trực tiếp giữ vai trò chủ thể trong chương trình.

Hạn chế lớn nhất của các chương trình hiện nay là gì? Là khung giờ phát sóng bất lợi kéo theo lượng người xem thấp, cùng với mức đầu tư chưa tương xứng khiến hình thức thể hiện thiếu hấp dẫn trước sức ép cạnh tranh từ hàng loạt chương trình giải trí mới. Bên cạnh đó, cơ cấu đối tượng phản ánh còn lệch, nhiều nhóm yếu thế gần như không xuất hiện trong khung chuyên đề.

Nguyên tắc đạo đức nào bắt buộc khi làm chương trình về người yếu thế? Có năm nguyên tắc: đặt lợi ích người yếu thế lên hàng đầu thay vì chạy theo rating; sử dụng hình ảnh và thông tin khách quan, chân thật; dùng ngôn ngữ tôn trọng, phù hợp từng nhóm; tôn trọng quyền riêng tư và phải có sự đồng ý của nhân vật hoặc người giám hộ trực tiếp; cải chính nghiêm túc khi thông tin đăng tải sai phạm.

Kết luận

  • Nhóm yếu thế tại Việt Nam có quy mô lớn với gần 13 triệu lao động, hơn 6 triệu người khuyết tật và khoảng 12 triệu đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng chưa được phản ánh tương xứng trên sóng truyền hình quốc gia.
  • Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu riêng biệt về chương trình truyền hình chuyên đề dành cho nhóm yếu thế, đặt ba chương trình đại diện ba nhóm đối tượng vào cùng một khung tiêu chí đánh giá.
  • Đóng góp lý luận nổi bật là hệ thống hóa sáu mô hình truyền thông ứng dụng và bộ sáu tiêu chí đánh giá chất lượng tác phẩm truyền hình chuyên đề.
  • Đóng góp thực tiễn là chỉ ra ba điểm nghẽn cụ thể: khung giờ bất lợi, đầu tư thiếu và cơ cấu đối tượng phản ánh lệch, kèm hệ giải pháp về nhân lực, quảng bá, đổi mới thể hiện và xã hội hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi sang các đài địa phương và đo lường hiệu quả trên nền tảng số, nơi hành vi tiếp nhận của công chúng yếu thế đang thay đổi nhanh.

Bạn đọc quan tâm tới báo chí vì cộng đồng, truyền thông thay đổi hành vi hoặc công chúng chuyên biệt nên tham khảo toàn văn luận văn để khai thác đầy đủ dữ liệu khảo sát và hệ thống biểu đồ đi kèm.