Tổng quan nghiên cứu

Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng sở hữu sức mạnh lan tỏa vượt trội nhờ khả năng tác động đồng thời vào thị giác và thính giác. Theo các nghiên cứu truyền thông, khoảng 70% lượng thông tin con người thu nhận được qua con đường thị giác và 20% qua thính giác. Trong cấu trúc dân số toàn cầu, trẻ em chiếm hơn 33% tổng dân số thế giới, tạo nên một nhóm công chúng chuyên biệt có nhu cầu tiếp nhận thông tin vô cùng đặc thù. Tại Việt Nam, Quyết định số 641/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đề án Tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng các sản phẩm truyền thông giáo dục dành cho thế hệ mầm non.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự mất cân đối giữa tính giáo dục và tính giải trí trong bối cảnh xã hội hóa sản xuất truyền hình hiện nay. Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất, cấu trúc nội dung và phương thức thể hiện của các chương trình thiếu nhi tiêu biểu; từ đó xác lập hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng thông tin, định hướng thẩm mỹ và kỹ năng sống cho trẻ em.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 745 tập phát sóng của 3 chương trình đại diện trên 3 kênh sóng chủ lực của Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018, bao gồm kênh Thời sự VTV1, kênh Giải trí VTV3 và kênh Giáo dục quốc gia VTV7. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống chỉ số đánh giá chuyên môn, giúp các đài truyền hình vừa tối ưu hóa doanh thu quảng cáo, vừa duy trì chuẩn mực đạo đức báo chí và trách nhiệm xã hội đối với thế hệ tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Truyền thông đại chúng của Denis McQuail nhằm phân tích cấu trúc vận hành, chức năng xã hội và phương thức tác động của phương tiện truyền hình đối với nhận thức công chúng. Kết hợp với đó là Lý thuyết tâm lý học tiếp nhận và 4 cơ chế ảnh hưởng xã hội gồm: bắt chước, đồng nhất, dạy bảo và hướng dẫn. Những cơ chế này chứng minh rằng trẻ em trong giai đoạn phát triển luôn có xu hướng tìm kiếm hình mẫu trên truyền hình để học hỏi hành vi và hình thành nhân cách.

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa 4 khái niệm nền tảng: truyền hình chuyên biệt, xã hội hóa sản xuất truyền hình, giáo dục giải trí và quyền trẻ em. Theo Luật Trẻ em Việt Nam, trẻ em là công dân dưới 16 tuổi; trong khi Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em quy định độ tuổi này là dưới 18 tuổi. Về mặt tâm lý lứa tuổi, nghiên cứu phân chia nhóm công chúng mục tiêu thành 2 giai đoạn: nhóm 6-10 tuổi (tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế, học tập qua trải nghiệm thực tế) và nhóm 11-12 tuổi (bước vào giai đoạn dậy thì, tư duy phân tích phát triển mạnh mẽ và bắt đầu định hình lý tưởng sống).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ hệ thống phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trong toàn bộ năm 2018. Tổng cỡ mẫu khảo sát là 745 chương trình phát sóng, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu mục đích đại diện cho 3 định dạng truyền hình: 365 số chương trình Vì tầm vóc Việt trên VTV1, 15 số chương trình Giọng hát Việt nhí 2018 trên VTV3 và 365 số chương trình Lớp học cầu vồng trên VTV7.

Phương pháp phân tích nội dung kết hợp thống kê mô tả được lựa chọn nhằm đo lường chính xác các thông số kỹ thuật như thời lượng phát sóng, tần suất, tỷ lệ thể loại và tốc độ nói của người dẫn chương trình. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa các tiêu chí chất lượng vốn mang tính trừu tượng. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với 12 biên tập viên, đạo diễn và chuyên gia sản xuất chương trình tại VTV nhằm thu thập dữ liệu định tính về quy trình kiểm duyệt, cơ chế phân bổ kinh phí và những thách thức khi tác nghiệp với trẻ em.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế 745 chương trình phát sóng trong năm 2018 đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, chương trình Vì tầm vóc Việt trên kênh VTV1 phát sóng đều đặn 7 số/tuần với tổng cộng 365 số, thời lượng ngắn từ 7 đến 10 phút/số. Sau đợt tái cấu trúc format từ tháng 9/2017, chương trình đã chuyển đổi không gian từ trường quay cố định sang trải nghiệm ngoại cảnh tại các trang trại, làng nghề. 100% các số phát sóng đều lồng ghép bài học kỹ năng sống hoặc tình huống tương tác thực tế giữa phụ huynh và trẻ nhỏ.

Thứ hai, chương trình Giọng hát Việt nhí 2018 trên kênh VTV3 gồm 15 số phát sóng định kỳ 1 số/tuần, thời lượng 45-50 phút/tập, thu hút lượng lớn khán giả với sự tham gia của 80 thí sinh qua 3 vòng thi: Giấu mặt, Đối đầu và Trình diễn trực tiếp. Tuy nhiên, tính chất giải trí chiếm hơn 75% thời lượng chương trình, áp lực cạnh tranh loại trừ trực tiếp qua tin nhắn bình chọn gây căng thẳng tâm lý rõ rệt cho các thí sinh lứa tuổi 9-15.

Thứ ba, chương trình Lớp học cầu vồng trên kênh VTV7 phát sóng 365 số/năm với tần suất phát lại 3 khung giờ mỗi ngày (10h00, 15h30, 19h30). Chương trình xây dựng đội ngũ 7 người dẫn chương trình tương ứng với 7 lĩnh vực nghệ thuật và kỹ năng, tạo nên tỷ lệ cân bằng giáo dục và giải trí đạt khoảng 60% giáo dục kết hợp 40% giải trí.

Thứ tư, thống kê về tốc độ phát âm của người dẫn chương trình cho thấy các MC tại VTV7 duy trì tốc độ nói chuẩn từ 130 đến 150 từ/phút, thấp hơn khoảng 25% so với tốc độ người dẫn bản tin thời sự VTV1 (trên 180 từ/phút), giúp trẻ nhỏ từ 4-8 tuổi tiếp thu kiến thức trọn vẹn.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua một biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thể loại chương trình thiếu nhi năm 2018 (ca nhạc giải trí chiếm 45%, khoa giáo kỹ năng sống chiếm 35%, hoạt hình và phim truyện chiếm 20%) và một bảng ma trận đối sánh giữa thời lượng phát sóng với mức độ ghi nhớ thông điệp của trẻ em.

Nguyên nhân dẫn đến sự mất cân đối về nội dung bắt nguồn từ áp lực tự chủ tài chính và cơ chế xã hội hóa. Khi các đơn vị tư nhân tham gia đầu tư sản xuất, tiêu chí rating và quyền lợi của nhà tài trợ thương mại thường lấn át các giá trị giáo dục cốt lõi. So sánh với tiêu chuẩn của Đạo luật Truyền hình Thiếu nhi Hoa Kỳ (yêu cầu mỗi đài truyền hình phải phát sóng tối thiểu 156 giờ chương trình giáo dục cốt lõi mỗi năm, tương đương ít nhất 26 giờ mỗi quý), khung chương trình thiếu nhi của các đài truyền hình trong nước vẫn còn thiếu sự ràng buộc mang tính pháp lý về tỷ lệ nội dung giáo dục bắt buộc. Mặc dù kênh VTV7 đã có những bước tiến vượt bậc khi học hỏi mô hình của đài EBS Hàn Quốc và NHK Nhật Bản, việc đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn kép về báo chí và tâm lý trẻ em vẫn là điểm nghẽn lớn cần sớm tháo gỡ.

Đề xuất và khuyến nghị

Để xây dựng các chương trình truyền hình thiếu nhi chất lượng cao, dung hòa giữa giá trị giáo dục và sức hút giải trí, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Tái cấu trúc khung giờ phát sóng và thời lượng chương trình: Ban Thư ký Biên tập phối hợp cùng Trung tâm Sản xuất các chương trình Giáo dục (VTV7) điều chỉnh khung giờ vàng cho trẻ em từ 18h30 đến 20h30. Mục tiêu nâng thời lượng chương trình giáo dục kỹ năng sống lên tối thiểu 15 phút/số, bảo đảm phát sóng định kỳ ít nhất 180 giờ chương trình giáo dục cốt lõi hàng năm, hoàn thành lộ trình trong giai đoạn 2020-2022.
  2. Kiểm soát thương mại hóa và chuẩn hóa nội dung quảng cáo: Lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam và Trung tâm Dịch vụ Quảng cáo (TVAd) ban hành bộ quy tắc kiểm duyệt hình ảnh, giới hạn thời lượng quảng cáo không vượt quá 10 phút trên mỗi giờ phát sóng chương trình thiếu nhi. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ 100% kịch bản tránh lạm dụng phát ngôn gây sốc hoặc bắt chước hành vi người lớn lệch chuẩn trước quý III/2020.
  3. Nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ tác nghiệp với trẻ em: Ban Tổ chức Cán bộ phối hợp cùng các viện nghiên cứu tâm lý tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho toàn bộ phóng viên, biên tập viên sản xuất chương trình thiếu nhi, hoàn thiện kỹ năng phỏng vấn và bảo vệ bí mật đời tư trẻ em từ năm 2020.
  4. Thiết lập bộ phận điều tra xã hội học công chúng chuyên biệt: Phòng Nghiên cứu Dư luận xã hội triển khai khảo sát định lượng định kỳ 6 tháng/lần với quy mô tối thiểu 1.000 mẫu khảo sát phụ huynh và học sinh tại 3 miền Bắc, Trung, Nam, cung cấp báo cáo đo lường thị hiếu chính xác phục vụ quá trình đổi mới format từ quý IV/2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ quản lý truyền hình và nhà hoạch định chính sách: Giúp định hình chiến lược phát triển kênh truyền hình chuyên biệt, xây dựng hành lang pháp lý về phân bổ tỷ lệ phát sóng giáo dục và cơ chế giám sát xã hội hóa báo chí.
  • Biên tập viên, đạo diễn và nhà sản xuất nội dung: Cung cấp bộ hướng dẫn thực hành về kỹ thuật biên kịch, lựa chọn bối cảnh tương tác thực tế, điều chỉnh tốc độ nói và ứng dụng thủ pháp giáo dục giải trí cho từng nhóm tuổi từ 6 đến 12 tuổi.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên ngành về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thực tế, trò chơi truyền hình có format quốc tế và phương pháp khảo sát định lượng truyền thông.
  • Chuyên gia giáo dục và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em: Khai thác dữ liệu nghiên cứu để đánh giá tác động của truyền thông đại chúng đối với sự phát triển tâm lý trẻ em, phục vụ công tác tư vấn giáo dục gia đình và nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc cân bằng giữa giáo dục và giải trí trên truyền hình thiếu nhi lại mang tính cấp thiết?
Trẻ em tiếp nhận hơn 70% kiến thức qua thị giác và 20% qua thính giác. Các chương trình thiếu nhi đóng vai trò định hình nhân cách và kỹ năng sống trong giai đoạn vàng từ 6 đến 12 tuổi. Nếu thiếu yếu tố giáo dục, trẻ dễ bắt chước các hành vi lệch chuẩn; ngược lại nếu thiếu giải trí, chương trình sẽ mất khả năng thu hút người xem.

Luận văn đã khảo sát những chương trình cụ thể nào với quy mô ra sao?
Luận văn tiến hành khảo sát toàn diện 745 chương trình phát sóng trong năm 2018 trên 3 kênh của Đài Truyền hình Việt Nam, bao gồm 365 số Vì tầm vóc Việt trên kênh VTV1, 15 số Giọng hát Việt nhí 2018 trên kênh VTV3 và 365 số Lớp học cầu vồng trên kênh VTV7.

Kênh VTV7 áp dụng mô hình giáo dục giải trí nào mang lại hiệu quả cao nhất?
VTV7 áp dụng mô hình Edutainment với cấu trúc 7 người dẫn chương trình phụ trách 7 lĩnh vực nghệ thuật, nhảy múa, khéo tay, thơ ca, trò chơi và âm nhạc. Chương trình duy trì tốc độ nói vừa phải khoảng 140 từ/phút và phát sóng 3 khung giờ mỗi ngày, giúp trẻ dễ dàng tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên.

Áp lực thương mại hóa và xã hội hóa ảnh hưởng thế nào đến các chương trình thực tế nhí?
Áp lực rating và lợi nhuận quảng cáo từ các nhà tài trợ thương mại dễ dẫn đến việc cắt xén yếu tố giáo dục để tập trung vào kịch tính thi đấu và nước mắt thí sinh, làm lu mờ sự ngây thơ, hồn nhiên vốn có của trẻ nhỏ trong các sân chơi tài năng.

Kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn đề xuất áp dụng cho truyền hình Việt Nam?
Nghiên cứu đề xuất vận dụng các quy chuẩn từ Đạo luật Truyền hình Thiếu nhi Hoa Kỳ năm 1990 về việc bắt buộc phát sóng tối thiểu 156 giờ chương trình giáo dục cốt lõi mỗi năm, đồng thời học hỏi quy trình sản xuất nội dung giáo dục chuyên sâu từ đài EBS Hàn Quốc và NHK Nhật Bản.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về truyền hình chuyên biệt, chỉ rõ cơ chế tiếp nhận tâm lý và đặc trưng thị giác - thính giác của trẻ em lứa tuổi 6-12.
  • Đánh giá thực trạng 745 tập phát sóng của 3 chương trình đại diện trên kênh VTV1, VTV3 và VTV7 trong năm 2018 bằng phương pháp định lượng khoa học.
  • Nhận diện chính xác xung đột giữa yêu cầu xã hội hóa, áp lực lợi nhuận quảng cáo với mục tiêu bảo đảm tính giáo dục chuẩn mực cho trẻ em.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi với mục tiêu kiểm soát thời lượng quảng cáo dưới 10 phút/giờ và duy trì ít nhất 180 giờ phát sóng giáo dục mỗi năm.
  • Cung cấp khung tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho công tác đào tạo báo chí và quản trị sản xuất truyền hình hiện đại.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2021 đến 2025, các cơ quan truyền thông cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang các nền tảng phân phối số đa phương tiện. Hãy cùng chung tay hành động để mỗi khung hình truyền hình phát sóng thực sự trở thành môi trường giáo dục an toàn, nuôi dưỡng tâm hồn và nâng cao tầm vóc cho thế hệ tương lai của đất nước.