PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 1.1 Cơ sở hình thành nghiên cứu 1.1 Tầm quan trọng của SMEs và IFRS for SMEs SMEs là thành phần kinh tế nhiều tiềm năng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Theo Ecorys (2012), Châu Âu có khoảng 20,7 triệu SMEs, chiếm 98% tổng số DN và sử dụng khoảng 67% tổng số lao động. Đối với các quốc gia ASEAN, SMEs là xương sống cho sự phát triển kinh tế bền vững của ASEAN, hơn 96% tổng số DN là SMEs, chiếm 50-85% số việc làm trong nước, đóng góp từ 30-53% GDP (ASEAN, 2013). Ở Mỹ, SMEs chiếm gần 99,7% trong tổng số DN, tạo ra khoảng 60% công việc tăng thêm hàng năm (trong khoảng từ năm 2009 đến giữa năm 2013) và cung cấp hơn một nửa tổng sản phẩm quốc nội phi nông nghiệp (SBEC, 2014).
Toàn cầu hóa đã dẫn đến việc mở rộng thị trường, tăng cường cạnh tranh và giảm những cản trở cho các DN khi tham gia vào thị trường quốc tế, do đó SMEs cũng phải đối mặt với các vấn đề phức tạp như các công ty niêm yết lớn (Ricci & ctg, 2010). Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho SMEs phát triển, cùng với mục tiêu nỗ lực hài hòa những quy định BCTC cho SMEs, IASB đã phát triển dự án xây dựng IFRS for SMEs để đáp ứng nhu cầu của SMEs cần có CMBCTC thích hợp trong môi trường kinh doanh quốc tế. Tháng 7/2009, IASB đã ban hành IFRS for SMEs. Bộ chuẩn mực này được xây dựng dựa trên IFRS nhưng hoàn toàn là một bộ chuẩn mực độc lập và đơn giản hơn so với IFRS về nguyên tắc ghi nhận, đo lường và yêu cầu công bố.
IASB xác định việc ban hành IFRS for SMEs với mục tiêu cung cấp một bộ chuẩn mực có chất lượng cao và thích hợp đối với tất cả các DN có quy mô nhỏ, các DN chưa niêm yết ở tất cả các quốc gia dù đã áp dụng IFRS hay chưa.Việc quyết định áp dụng IFRS for SMEs là tự nguyện, tuy nhiên, IASB mong muốn bộ chuẩn mực này sẽ được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới (Blaskova & Bohusova, 2013). Theo Pacter (2011), từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ii khi ban hành đến năm 2011, 74 quốc gia đã tiếp nhận và đang xây dựng lộ trình áp dụng trong 3 năm tiếp theo.2 SMEs và VAS áp dụng cho SMEs ở Việt Nam Tại Việt Nam, SMEs đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và đóng góp cho ngân sách NN. Vì thế, thông tin kế toán được cung cấp bởi các DN này là đặc biệt quan trọng (Perera & Chand, 2015). Do đó, SMEs cần phải có các quy định kế toán được chuẩn hóa một cách phù hợp để áp dụng hiệu quả trong thực tế.
Cho đến nay, BTC đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán và nhiều thông tư hướng dẫn để từng bước đưa kế toán Việt Nam hòa nhập với kế toán quốc tế. BTC cũng ban hành Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 về Chế độ kế toán áp dụng cho SMEs. Theo quy định này, 26 VAS áp dụng cho SMEs được chia thành 3 nhóm, nhóm các VAS áp dụng đầy đủ, áp dụng không đầy đủ và nhóm các VAS không áp dụng đối với SMEs. Thông tư 133/2016/TT-BTC vừa ban hành dù chỉ quy định các VAS mà SMEs không áp dụng, nhưng các hướng dẫn trong thông tư cũng vẫn giới hạn một số nội dung các chuẩn mực không áp dụng đầy đủ cho SMEs như QĐ 48/2006/QĐ-BTC.
Tuy nhiên, đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin kế toán đối với SMEs mang tính đặc thù không giống các DN niêm yết, DN có quy mô lớn. Do đó, áp dụng chung VAS với những quy định giảm trừ dẫn đến thông tin kế toán dàn trải, không đáp ứng tập trung nhu cầu thông tin cho nhóm đối tượng này (Nguyễn Vũ Việt & Mai Ngọc Anh, 2010; Mai Ngọc Anh, 2011). Một số VAS không áp dụng hoặc áp dụng không đầy đủ đã gây tình trạng thiếu quy định hướng dẫn để tham chiếu khi xử lý công việc kế toán nhưng mặt khác vẫn tồn tại một số nội dung không cần thiết. Hơn nữa, những VAS đầu tiên của VN được ban hành từ năm 2001 và mặc dù VAS được xây dựng trên cơ sở của IFRS nhưng đã lạc hậu do không được cập nhật, sửa đổi trong một thời gian dài nên không thể đảm bảo cung cấp thông tin có thể so sánh với các DN khác trên thế giới.
Trong xu thế hội nhập kế toán ngày càng mạnh mẽ, “Chiến lược kế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com iii toán- kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo QĐ 480/2013/QĐ-TTg VN đã xác định chủ trương nỗ lực để hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung và chuẩn mực kế toán nói riêng của VN, thể hiện trong các quan điểm là “hoàn thiện khuôn khổ pháp lý hệ thống chuẩn mực”, “hòa nhập với thông lệ quốc tế”. Chủ trương này đã được thực hiện bởi hàng loạt các đổi mới trong thời gian vừa qua như Luật Kế toán sửa đổi đã được Quốc hội thông qua 11/2015 và chính thức có hiệu lực thi hành từ 1/1/2017, Dự thảo chỉnh sửa, bổ sung các nội dung liên quan đến 8 chuẩn mực kế toán đã ban hành lấy ý kiến. TT 200/2014/TT-BTC về chế độ kế toán cho DN đã có các quy định phù hợp hơn với IFRS. Và gần đây nhất, ngày 26/8/2016, thông tư 133/2016/TT-BTC về Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, có hiệu lực từ 1/1/2017 thay thế Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC cũng vừa ban hành.
Tuy nhiên, TT 133/2016/TT-BTC cũng chỉ như là một phiên bản thu nhỏ của TT 200/2014/TT-BTC, chưa thực sự dựa trên nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin SMEs để có các quy định phù hợp, chưa có điểm gì đột phá đáng kể để có thể gỡ bỏ khó khăn cho SMEs trong việc tuân thủ VAS cũng như cải thiện chất lượng thông tin BCTC. Điều này dẫn đến vẫn tồn tại tình trạng khó khăn do thiếu quy định tham chiếu cho các DN có quy mô vừa nhưng lại quá khó, quá phức tạp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Do đó, bộ phận DN này có thể vẫn sẽ gặp trở ngại, và vì thế sẽ gây ra sự bàng quan của nhiều DN đối với quy định mới này như thời gian vừa qua đã từng xảy ra đối với QĐ 48/2006/QĐ-BTC. Mặt khác, BTC cũng chỉ mới dừng lại ở thông tư hướng dẫn chế độ kế toán, chưa có sự đổi mới toàn diện liên quan đến hệ thống chuẩn mực kế toán.
Đồng thời, sự khác biệt giữa VAS và IFRS/IFRS for SMEs còn khá xa và tốc độ hội tụ vẫn còn chậm. Ngoài ra, SMEs Việt Nam ngày càng tăng cường tham gia vào các hoạt động quốc tế, hơn nữa cũng cần thu hút vốn trong và ngoài nước để phát triển nên yêu cầu thông tin tài chính minh bạch trở nên bức thiết. Chuẩn mực kế toán thích hợp sẽ giúp DN lập BCTC có chất lượng đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin đáng tin cậy và hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin. Như vậy, tương tự các quốc gia khác, VN cũng đang có những áp lực về hội tụ với IFRS/IFRS for SMEs.
Tuy nhiên, những thay đổi đáng kể trong hệ thống chuẩn mực kế toán VN, đặc biệt là liên quan đến SMEs để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com iv đáp ứng xu hướng hội nhập vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện trong thời gian vừa qua.2 Vấn đề nghiên cứu Áp dụng IFRS thể hiện một bước hướng đến hài hòa và hội tụ kế toán quốc tế và được khuyến khích bởi vì chuẩn mực này giúp cải thiện chất lượng và khả năng so sánh quốc tế của BCTC (Brown & Tarca, 2005; Navarro-García & Bastida, 2010). Thuật ngữ “áp dụng IFRS” được sử dụng để chỉ cách thức lựa chọn áp dụng IFRS (chấp nhận hoàn toàn IFRS thay thế chuẩn mực kế toán quốc gia, phê chuẩn từng chuẩn mực hay hội tụ…) của các quốc gia (Zeff & Nobes, 2010). Albu & ctg (2013) cũng khẳng định áp dụng IFRS for SMEs là giải pháp làm tăng tính so sánh của BCTC SMEs. Pactor, người chịu trách nhiệm chính về IFRS for SMEs cũng khẳng định “IFRS for SMEs sẽ cung cấp cho các DN một giấy thông hành để tăng thu hút vốn ở thị trường trong nước và quốc tế” (IASB, 2009c).
Nói cách khác, việc quyết định áp dụng IFRS/IFRS for SMEs là vấn đề quan trọng của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Xuất phát từ mục tiêu xây dựng IFRS for SMEs của IASB, các quốc gia trên thế giới đã cân nhắc việc áp dụng bộ chuẩn mực này. IFRS for SMEs là bộ chuẩn mực có chất lượng cao được xây dựng dựa trên nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin, chi phí và khả năng của SMEs nhưng sự thích hợp, tính khả thi và việc chấp nhận bộ chuẩn mực này khác nhau ở các quốc gia do những điều kiện khác biệt về kinh tế xã hội, luật pháp, yêu cầu cung cấp thông tin và nội lực của SMEs… Các vấn đề này vẫn còn là những câu hỏi gây nhiều tranh luận. Từ những vấn đề đó, một số các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện các nghiên cứu mang tính dự báo trước để đánh giá, phân tích sự thích hợp của IFRS for SMEs đối với nhu cầu BCTC của SMEs ở một số quốc gia, làm cơ sở cho quyết định áp dụng IFRS for SMEs.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Thứ nhất, về bối cảnh và số lượng nghiên cứu, theo Albu & ctg (2013), Blaskova & Bohusova (2013), các nghiên cứu về IFRS for SMEs còn khá khiêm tốn và chỉ giới hạn ở bối cảnh của mỗi quốc gia với những đặc trưng riêng về môi trường hoạt động, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com v về tiêu chí phân loại SMEs, chưa thể kết luận chung cho tất cả các quốc gia, chủ yếu tập trung ở Nam Phi (Stainbank, 2008; Wyk & Rossouw, 2009; Schutte & Buys, 2010, Stainbank & Tafuh, 2011), Thổ Nhĩ Kỳ (Atik, 2010), Ghana (Otchere & Agbeibor, 2012); Fiji (Chand & ctg, 2015) và một số quốc gia thuộc châu Âu như Đức, Romania, Thụy Điển, Hà Lan …(Eierle & Haller, 2009; Albu & ctg, 2010; Aamir & Farooq, 2010; Quali & Paoloni, 2012; Litjens & ctg, 2012).