CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm, phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp 1.
Khái niệm báo cáo tài chính doanh nghiệp Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị. Theo đó, báo cáo tài chính chứa đựng những thông tin tổng hợp, toàn diện nhất về tình hình tài sản, VCSH và nợ phải trả tại một thời điểm cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển dòng tiền trong một kỳ kinh doanh nhất định của doanh nghiệp.57] Báo cáo tài chính phải được trình bày một cách trung thực và hợp lý, phản ánh chính xác tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền lưu chuyển của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định hiện hành có liên quan. Đồng thời, báo cáo tài chính phải đảm bảo độ tin cậy của thông tin, phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và các sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức pháp lý của chúng, trình bày khách quan không thiên vị, tuân thủ nguyên tắc thận trọng và trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
Mặt khác, báo cáo tài chính phải trình bày đầy đủ các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu. Tính hệ thống của báo cáo tài chính được thể hiện ở mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ giữa các báo cáo. Mối báo cáo tài chính riêng biệt cung cấp cho người đọc một khía cạnh hữu ích khác nhau, những thông tin bổ ích khác nhau. Tuy nhiên để có thể có một kết quả khái quát hay sự đánh giá tổng thể về tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự phân tích, kết hợp các thông tin từ các báo cáo tài chính.
5 Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin từ báo cáo tài chính, để đưa ra các quyết định kinh tế. Trong nền kinh tế thị truờng, thông tin trong báo cáo tài chính không chỉ phục vụ yêu cầu quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp mà còn cung cấp các thông tin cần thiết cho những đối tượng quan tâm ngoài doanh nghiệp thí dụ như khách hàng, nhà đầu tư…. Mỗi đối tuợng sử dụng thông tin với các mục đích khác nhau nhưng nhìn chung hệ thống báo cáo tài chính có tác dụng chủ yếu để cung cấp thông tin để giúp cho quá trình phân tích, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, tình hình công nợ, khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh, tình trạng tài chính, khả năng phát triển cũng như những rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy kết quả hoạt động của doanh nghiệp đạt được trong hoàn cảnh đó. Bằng việc xem xét, phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp. Do đó, báo cáo tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hành chính, những người cho vay, các nhân viên ngân hàng, các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm, các đại lý.
kể các cơ quan chính phủ và bản thân người lao động. Mỗi một nhóm người có những nhu cầu thông tin khác nhau và do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của một doanh nghiệp. 6 Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin tổng quát về kinh tế - tài chính, giúp cho việc phân tích tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ. Trên cơ sở đó, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá tình hình chấp hành và thực hiện các chính sách kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Những thông tin trên báo cáo tài chính là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích, phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế. Trên cơ sở đó, dự toán tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Đó là những căn cứ quan trọng giúp cho việc đưa ra những quyết định quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp, hoặc là những quyết định của nhà đầu tư, các chủ nợ, các cổ đông tương lai của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin giúp cho việc phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp như: Phân tích tình hình biến động về quy mô, cơ cấu tài sản, nguồn vốn; về tình hình thanh toán và khả năng thanh toán; tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, tình hình phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu, số liệu trên báo cáo tài chính là những cơ sở quan trọng để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác giúp cho việc đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp Theo chế độ Báo cáo tài chính hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp), hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có quy mô lớn bao gồm hệ thống báo cáo tài chính năm, hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ kế toán, hệ thống báo cáo tài chính tổng hợp và hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất. Các doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo 7 kỳ kế toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn sau khi thông báo cho cơ quan thuế. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp được phép thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập báo cáo tài chính cho một kỳ kế toán năm đầu tiên hay kỳ kế toán năm cuối cùng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn 12 tháng nhưng không vượt quá 15 tháng.
Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân – kể cả hợp tác xã sử dụng hệ thống báo cáo tài chính năm. Ngoài ra, có thể sử dụng báo cáo tài chính hàng tháng, quý để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Để thuận lợi cho việc nghiên cứu và sử dụng báo cáo tài chính doanh nghiệp, cần thiết phải tiến hành phân loại báo cáo tài chính. Phân loại báo cáo tài chính là việc sắp xếp báo cáo tài chính theo những tiêu thức nhất định.
* Phân loại báo cáo tài chính doanh nghiệp theo nội dung phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, và sử dụng vốn của doanh nghiệp - Báo cáo tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp Để phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, kế toán sử dụng “Bảng cân đối kế toán”. Bảng này được lập trên cơ sở tính cân bằng về mặt lượng giữa giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp và được lập vào một thời điểm nhất định (cuối tháng, cuối quý, cuối năm). Do đó, bảng cân đối kế toán có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế - tài chính – pháp lý trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Báo cáo phản ánh doanh thu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh Quá trình và kết quả kinh doanh là một trong những bộ phận quan trọng của đối tượng hạch toán kế toán.
Sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp cần biết được một cách tổng quát toàn bộ chi phí bỏ ra và kết quả thu được theo từng lĩnh vực hoạt động. Toàn bộ những thông tin này được phản ánh trên “Báo cáo kết quả 8 hoạt động kinh doanh”. Thông qua báo cáo này, người sử dụng thông tin có thể dánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Báo cáo phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước Nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện với Ngân sách nhà nước gồm thuế và các khoản phải nộp khác.
Việc thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà nước là một trong những tiêu chí để đánh giá tình hình chấp hành pháp luật và kỷ cương của doanh nghiệp trong kinh doanh. Từ đó, suy rộng ra việc tôn trọng kỷ luật thanh toán của doanh nghiệp cũng như tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Để phản ánh được thông tin về tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước, báo cáo loại này thường phản ánh tình hình đầu kỳ (phải nộp, nộp thừa), tình hình trong kỳ (phải nộp, đã nộp) và tình hình cuối kỳ (còn phải nộp hay nộp thừa) trên tổng số và theo từng khoản thanh toán.