PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày 31/12/2015 cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hoạt động với mục tiêu tạo ra một khu vực kinh tế thịnh vƣợng, ổn định và có tính cạnh tranh cao. Đây sẽ là thị trƣờng có quy mô dân số lớn thứ 3 trên thế giới với hơn 600 triệu ngƣời, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Việc hội nhập AEC đem lại cơ hội phát triển kinh kế đồng thời cũng mang lại rủi ro, thách thức cho các nƣớc thành viên.
Trƣớc bối cảnh đó, Việt Nam hội nhập AEC không chỉ là một cơ hội tốt thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn góp phần nâng cao vị thế quốc gia, tạo tiền đề quan trọng cho việc hội nhập về văn hóa, chính trị, xã hội với các nƣớc trong khu vực. Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội sau 30 năm đổi mới với sự cải cách toàn diện nền kinh tế và chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, giữa Việt Nam và các nƣớc ASEAN còn có sự chênh lệch về trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh. Tính theo GDP bình quân đầu ngƣời, Việt Nam chỉ cao hơn Lào, Campuchia và Myanmar, và thấp hơn nhiều so với Singapore (Võ Trí Thành 2015a).
Chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) cũng có sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nƣớc ASEAN. Theo bảng xếp hạng của Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc năm 2013, Việt Nam xếp hạng 121, cao hơn Lào (139), Campuchia (136), Myanma (150) nhƣng thấp hơn nhiều so với Singapore (9), Brunei (30) và Malaysia (62) [UNDP 2014]. Để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả, đóng góp chung vào xây dựng AEC, Việt Nam và các nƣớc ASEAN cần có những điều chỉnh phù hợp để thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh hiệu quả hơn. Có thể nói, nguồn lực lao động trẻ đặc biệt là bộ phận sinh viên đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Hằng năm, có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bƣớc vào tuổi lao động. Năm 2008, số thanh niên hoạt động kinh tế của cả nƣớc hơn 16 triệu ngƣời chiếm 38,7% lực lƣợng lao động xã hội; năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế tăng lên gần 18 triệu ngƣời 36,6% lực lƣợng lao động xã hội; năm 2010 3 con số đó là 17,1 triệu ngƣời, chiếm 33,7% lực lƣợng lao động xã hội) 1. Có thể nói, nguồn lực và tiềm lực của thanh niên là rất lớn. Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên hiện nay ngày càng tăng.
Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3% năm 2008 lên 5,6% năm 2009 và 4,1% năm 2010. Trong đó, khu vực thành thị là 2%, khu vực nông thôn là 4,9%. Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hƣớng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% năm 2008, 4,1% năm 2009 và tăng lên 5,2% năm 2010, trong đó ở khu vực đô thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần khu vực nông thôn (4,3%).
Số đối tƣợng hƣởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Trong số những ngƣời hƣởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, số ngƣời ở độ tuổi dƣới 24 là 12.275 ngƣời (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là 31.366 ngƣời (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6. Lực lƣợng lao động là thanh niên có trình độ trình độ cao đẳng, đại học tăng nhanh từ 5,5% năm 2008 lên 7,8% năm 2009 và 8,7% năm 2010. Mỗi năm có từ 70 đến 80 nghìn sinh viên hệ cao đẳng và 143 đến 160 nghìn sinh viên đại học tốt nghiệp, bổ sung cho lực lƣợng lao động xã hội(3).
Nhƣ vậy, lực lƣợng lao động là thanh niên đƣợc đào tạo ngày càng tăng lên, nhƣng tỷ lệ vẫn rất thấp so với tổng số lao động thanh niên (chƣa đến 10%). Xu thế hội nhập toàn cầu hóa khiến lao động nƣớc ngoài (đặc biệt là lao động có kỹ thuật, trình độ quản lý,…) tham gia vào thị trƣờng lao động Việt Nam nhiều hơn, cạnh tranh về lao động trình độ cao ngày càng gay gắt. Do vậy, sinh viên Việt Nam ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn thì các yêu cầu khác về chất lƣợng nguồn nhân lực đang đƣợc đặt ra. Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hóa ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ 1 Xem: http://www.vn, Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay của GS, TS Đặng Cảnh Khanh.
2 Xem: http://www.vn, Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay của GS, TS Đặng Cảnh Khanh. 4 quốc tế,… Điều này đòi hỏi sinh viên phải nhanh chóng học tập những cái mới những cũng cần phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp. Bên cạnh đó, nhận thức của nhiều sinh viên về hội nhập quốc tế còn đơn giản, thiếu toàn diện. Phó thủ tƣớng, bộ trƣởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã nói tại buổi tọa đàm “Hội nhập quốc tế về một số vấn đề đặt ra đối với nƣớc ta từ 2015” rằng thực tế VN đã sống trong cộng đồng AEC từ nhiều năm qua, tuy nhiên ngƣời dân chƣa nắm và hiểu rõ quá trình mà VN đã thực hiện.
Theo Phó thủ tƣớng, so với các nƣớc trong khu vực, tỉ lệ ngƣời dân VN hiểu rõ những lợi ích đem lại từ AEC còn rất thấp, khoảng 60-70% ngƣời đƣợc hỏi không hiểu về AEC. Sự chuẩn bị của mỗi cá nhân góp phần quan trọng trong việc tìm nghề nghiệp tƣơng lai. Điều đó không những chỉ có ý nghĩa đối với bản thân sinh viên ấy mà còn có ý nghĩa đến phát triển nguồn nhân lực cho cả nƣớc. Thông thƣờng sự chuẩn bị khi còn ngồi trên giảng đƣờng là quan trọng và rèn luyện trong thời gian dài.
Từ những thực tế trên, đề tài tiến hành nghiên cứu sự chuẩn bị cho nghề nghiệp tƣơng lai của SV ĐH KHXH&NV TPHCM, phân tích một vài hiểu biết của sinh viên về AEC, tìm hiểu về sự chuẩn bị của sinh viên cho nghề nghiệp tƣơng lai trƣớc sự hội nhập của Việt Nam vào AEC và một số yếu tố tác động đến sự chuẩn bị của sinh viên. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Việt Nam gia nhập AEC chính thức vào ngày 31/12/2015 nhƣng việc định hƣớng hình thành AEC đã đƣợc thông qua từ 12/1997. Từ thời điểm này, vấn đề về AEC đã bắt đầu thu hút nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu của các nƣớc trên nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm. Các công trình có thể tạm phân thành hai chủ đề: 2.
Các nghiên cứu về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập AEC Về cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập AEC thì có những nghiên cứu sau: “Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến 5 thƣơng mại quốc tế của Việt Nam” của Hà Văn Hội đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 4 (2013) , ngày 23/12/2013 cho thấy tác động tích cực và tiêu cực của AEC đối với thƣơng mại Việt Nam.Tác động tích cực gồm: Thứ nhất, tham gia AEC sẽ giúp Việt Nam tăng thêm khối lƣợng trao đổi thƣơng mại với các nƣớc trong khu vực. Thứ hai, tác động của AEC tới tăng trƣởng xuất khẩu. Thứ ba, tham gia AEC sẽ tác động tới việc thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo chiều hƣớng tích cực. Thứ tƣ, tham gia AEC sẽ tác động tích cực tới việc mở rộng thị phần của hàng hóa Việt Nam trên các thị trƣờng có liên quan, thể hiện rõ nhất là tại các nƣớc ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Thứ năm, tham gia AEC sẽ gia tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Tác động tiêu cực gồm: Thứ nhất, với việc đẩy mạnh tự do hóa thƣơng mại nội khối, hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia thành viên AEC sẽ dần xóa bỏ Thứ hai, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hóa các nƣớc khác trên thị trƣờng ASEAN. Thứ ba, thuận lợi hóa thƣơng mại trong AEC sẽ tạo ra sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu đối với các sản phẩm, ngành hay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ngay tại thị trƣờng Việt Nam. Hiện nay, tại các thành phố lớn của Việt Nam nhƣ Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, các sản phẩm có nguồn gốc từ ASEAN xuất hiện ngày càng nhiều.
Bên cạnh đó, có những bài viết về AEC cũng đƣợc đăng trên trang web của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cụ thể là bài viết : “Thiếu kỹ năng và hiểu biết về cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 – mối lo ngại lớn của doanh nghiệp”.Trong đó, đề cập một xu hƣớng đáng chú ý là tốc độ tăng của năng suất lao động giảm đi tại Việt Nam. Một cuộc khảo sát về nhu cầu về kỹ năng với hơn 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch ở khu vực miền trung Việt Nam, tất cả chủ lao động đều cho rằng sinh viên tốt nghiệp các trƣờng dạy nghề không đáp ứng đƣợc yêu cầu của họ. Nguyên nhân là vì thiếu sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo. 6 Báo cáo “Cộng đồng ASEAN 2015 : quản lý hội nhập hƣớng tới việc làm tốt hơn và thịnh vƣợng chung” do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thực hiện, nghiên cứu tác động của AEC đối với các thị trƣờng lao động bằng cách mô phỏng những mô hình kinh tế.
Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam đối với AEC Ngoài việc nghiên cứu về các cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp nhƣ bài báo cáo “Con đƣờng đến Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015: Những thách thức và cơ hội đối với các doanh nghiệp”, một số công trình khác cũng viết về vấn đề này nhƣng đi theo hƣớng khác nhƣ nhận xét đánh giá về nguồn nhân lực, điển hình nhƣ: Hội thảo khoa học “Cộng đồng kinh tế ASEAN Cơ hội và thách chức cho thị trƣờng lao động TP.HCM” do Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM tổ chức ngày 25/8, Trung tâm WTO – VCCI, cũng đã có bài “Đánh giá nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia AEC” đăng vào ngày 2/7/2015 hay bài viết “Chất lƣợng nguồn nhân lực ở Việt Nam” của ThS. Hà Huy Ngọc,. Dù là vấn đề doanh nghiệp hay nhân lực thì cả hai hƣớng đều nhìn nhận thực trạng các nhân tố để phát triển kinh tế của Việt Nam còn quá nhiều hạn chế.