Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh làn sóng tự do hóa thương mại toàn cầu bùng nổ với hơn 420 hiệp định thương mại khu vực được thông báo tới Tổ chức Thương mại Thế giới, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với quy mô thị trường hơn 600 triệu dân đã thực hiện bước chuyển mình lịch sử. Sáng kiến thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 năm 2003, xác lập vị thế là một trong ba trụ cột cốt lõi cùng với Cộng đồng Chính trị - An ninh và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội. Đến Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 12 năm 2007, các nhà lãnh đạo khu vực đã quyết định rút ngắn thời hạn hoàn thành AEC từ năm 2020 xuống năm 2015, rút ngắn tiến trình liên kết 5 năm. Tuy nhiên, thách thức lớn nảy sinh từ khoảng cách phát triển kinh tế sâu sắc giữa nhóm sáu nước sáng lập và nhóm bốn nước đi sau, cùng sự đa dạng về thể chế chính trị và việc thiếu vắng một cơ chế quản trị siêu quốc gia. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề nhận thức luận về mô hình AEC, xác lập mục tiêu làm rõ cơ sở lý thuyết kiến tạo của quá trình hình thành cộng đồng, phân tích sự thay đổi tư duy hợp tác khu vực và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian kinh tế Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 2003 đến tháng 6 năm 2012, đặt trong tiến trình lịch sử từ năm 1967 và định hướng đến năm 2015. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm thúc đẩy tỷ trọng thương mại nội khối từ mức khoảng 25% lên cao hơn, hỗ trợ Việt Nam tối ưu hóa lợi ích quốc gia kể từ khi gia nhập ASEAN năm 1995 và trở thành thành viên WTO năm 2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết quan hệ quốc tế và hội nhập kinh tế, lấy trọng tâm là Chủ nghĩa Kiến tạo xã hội của Alexander Wendt (1992), kết hợp cùng Chủ nghĩa Chức năng Mới của Ernst Haas (1964) và Chủ nghĩa Liên chính phủ Tự do của Andrew Moravcsik (1993). Mô hình nghiên cứu tiếp cận sự hình thành AEC như một tiến trình kiến tạo mang tính xã hội, vận hành qua ba nấc thang nhận thức: Dung thứ (khép lại quá khứ và tôn trọng sự đa dạng), Tương hỗ (chia sẻ trách nhiệm vì lợi ích dài hạn) và Tín nhiệm (xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia). Hệ thống khái niệm chủ đạo bao gồm: Bản sắc khu vực, Cấu trúc chủ quan liên thông, Chuẩn mực xã hội hóa, và Thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất. Về mặt thể chế kinh tế, AEC được định vị qua công thức đặc thù: Khu vực mậu dịch tự do mở rộng (FTA+) và Thị trường chung thu hẹp (CM-), thực thi bốn quyền tự do lưu chuyển gồm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư/vốn và lao động kỹ thuật trên nền tảng ba trụ cột cộng đồng gắn kết.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn mực từ Ban Thư ký ASEAN giai đoạn 1967 - 2012, cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, WTO và các công trình của Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn sâu chuyên gia với cỡ mẫu N = 15 nhà nghiên cứu cao cấp, chuyên gia phân tích chính sách và cán bộ ngoại giao tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á và Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương thuộc Bộ Ngoại giao. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những cá nhân có trên 10 năm kinh nghiệm trực tiếp theo dõi và đàm phán các thỏa thuận khu vực. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tiến trình lịch sử kết hợp mô hình hóa lý thuyết và phân kỳ nhận thức qua ba giai đoạn phát triển. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì Chủ nghĩa Kiến tạo đòi hỏi việc truy vết sự chuyển biến về bản sắc, chuẩn mực và tư duy chính sách của giới tinh hoa qua 45 năm lịch sử (1967 - 2012), điều mà các mô hình kinh tế lượng thuần túy không thể đo lường toàn diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, AEC là sản phẩm của quá trình kiến tạo xã hội thông qua sự chuyển dịch nhận thức của giới lãnh đạo qua 45 năm (1967 - 2012), không phải là kết quả phát triển tự phát thuần túy về kinh tế. Minh chứng là quyết định năm 2007 rút ngắn thời hạn hoàn thành AEC từ năm 2020 xuống 2015, tương đương việc rút ngắn 33% thời gian chuyển tiếp dự kiến ban đầu, khẳng định quyết tâm gia tăng bản sắc và năng lực tự cường khu vực.

Thứ hai, bản chất thể chế của AEC được xác định theo mô hình AEC = FTA+ = CM-, tạo nên cấu trúc khác biệt so với Cộng đồng Kinh tế Châu Âu theo Hiệp ước Rome năm 1957. AEC dỡ bỏ rào cản cho bốn yếu tố lưu chuyển nhưng không duy trì biểu thuế quan chung đối ngoại và chính sách kinh tế tập trung, đồng thời ưu tiên xóa bỏ thuế quan sớm cho 12 ngành kinh tế mũi nhọn với quy mô hơn 4.000 dòng thuế.

Thứ ba, sự phân tầng kinh tế sâu sắc giữa nhóm sáu nước sáng lập và nhóm bốn nước đi sau đặt ra áp lực lớn. Vào năm 2012, thu nhập bình quân đầu người của nhóm bốn nước mới chỉ bằng khoảng 40% đến 50% so với nhóm sáu nước ban đầu. Việt Nam dù đã thực hiện lộ trình giảm thuế về 0% đến 5% cho 15 nhóm sản phẩm theo chương trình Thuế quan Ưu đãi có hiệu lực chung, song vẫn đối mặt với khoảng cách lớn về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh dịch vụ.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh chu trình tương tác ra hiệu, diễn giải và phản ứng theo lý thuyết kiến tạo. Chuẩn mực Phương cách ASEAN với nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp nội bộ không làm triệt tiêu hợp tác mà đã tạo môi trường tin cậy để các quốc gia đa dạng về thể chế cùng hội nhập. So sánh với Chủ nghĩa Hiện thực Ngoại vi vốn coi ASEAN chỉ là liên minh an ninh thụ động của các nước nhỏ trước áp lực nước lớn, lăng kính kiến tạo chứng minh chính ý thức bản sắc chung đã thúc đẩy các cam kết hội nhập bền vững. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bảng so sánh 5 tiêu chí liên kết kinh tế (từ FTA đến Thị trường chung) kết hợp biểu đồ dòng thời gian 4 cột mốc then chốt: Tuyên bố Bangkok 1967, Hiệp định CEPT 1992, Tuyên bố Bali II 2003 và mốc cán đích 2015 trên không gian kinh tế 600 triệu dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và đẩy nhanh nội luật hóa cam kết hội nhập: Bộ Công Thương chủ trì phối hợp cùng Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan rà soát khung pháp lý, bảo đảm 100% dòng thuế cam kết trong Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN được đưa về mức 0% đúng lộ trình, đồng thời cắt giảm thời gian thông quan hàng hóa xuống dưới 24 giờ trong giai đoạn 2012 - 2015.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuẩn hóa kỹ năng: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các hiệp hội nghề nghiệp triển khai đồng bộ 8 Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về kỹ năng lao động, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng chứng chỉ đạt trên 55% vào năm 2018.

Thứ ba, tối ưu hóa chuỗi giá trị và xúc tiến thương mại nội khối: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp kết nối chuỗi cung ứng khu vực, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN từ mức 14% lên 20% đến 22% tổng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp từ các nước ASEAN tăng trưởng bình quân 12% mỗi năm giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông chính sách và xây dựng nhận thức cộng đồng: Ban Chỉ đạo Quốc gia về Hội nhập Quốc tế phối hợp cùng các cơ quan truyền thông tổ chức trên 50 hội thảo tập huấn thường niên, bảo đảm trên 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ nắm vững quy tắc xuất xứ hàng hóa và biểu thuế ưu đãi trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ ngoại giao kinh tế tại Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Luận văn cung cấp khung phân tích lý luận kiến tạo phục vụ đàm phán đa phương và tối ưu hóa 4 quyền tự do lưu chuyển của AEC.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế và Quan hệ quốc tế: Công trình là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về lý thuyết hội nhập khu vực mới và mô hình kiến tạo xã hội trong nghiên cứu kinh tế đối ngoại.

Thứ ba, lãnh đạo doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và các nhà quản trị chiến lược: Luận văn cung cấp bức tranh toàn cảnh về lộ trình mở cửa 12 ngành ưu tiên và biểu thuế ưu đãi, hỗ trợ xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường khu vực 600 triệu dân.

Thứ tư, các chuyên gia tư vấn đầu tư và tổ chức nghiên cứu kinh tế quốc tế: Báo cáo đem lại hệ thống dữ liệu định tính chuẩn xác về thể chế kinh tế Đông Nam Á, hỗ trợ thẩm định các dự án đầu tư và chương trình liên kết khu vực.

Câu hỏi thường gặp

Chủ nghĩa kiến tạo giải thích sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN khác gì so với các lý thuyết hội nhập truyền thống?

Chủ nghĩa Kiến tạo khẳng định AEC không chỉ là kết quả lan tỏa tự nhiên từ lợi ích thương mại như Chủ nghĩa Chức năng Mới, hay liên minh quân sự cân bằng quyền lực theo Chủ nghĩa Hiện thực. AEC là một cấu trúc xã hội được tạo dựng từ sự chuyển biến nhận thức, bản sắc chung và chuẩn mực ứng xử tích lũy qua 45 năm tương tác.

Bản chất thể chế của Cộng đồng Kinh tế ASEAN được đúc kết qua công thức nào?

Luận văn xác định công thức thể chế cốt lõi là AEC = FTA+ = Thị trường chung thu hẹp. AEC phát triển cao hơn một hiệp định tự do thương mại nhờ bổ sung tự do dịch chuyển vốn và lao động có kỹ năng, nhưng chưa đạt mức thị trường chung hoàn chỉnh như Liên minh Châu Âu do không áp dụng thuế quan chung đối ngoại.

Vì sao các nhà lãnh đạo ASEAN quyết định rút ngắn thời hạn hoàn tất AEC từ năm 2020 xuống năm 2015?

Quyết định tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 12 năm 2007 bắt nguồn từ việc ASEAN đã cam kết hoàn tất nhiều thỏa thuận tự do thương mại với các đối tác lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc vào năm 2015. Việc đẩy sớm thời hạn 5 năm tạo động lực thúc đẩy các thành viên cải cách thể chế trong nước.

Nhóm nước đi sau gồm bốn quốc gia Đông Dương và Myanmar gặp phải những trở ngại gì khi gia nhập AEC?

Nhóm bốn nước đối mặt với khoảng cách phát triển lớn khi thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng khoảng 40% đến 50% so với nhóm sáu nước phát triển. Thách thức lớn nhất nằm ở hạ tầng giao thông kết nối hạn chế, chất lượng lao động chưa cao và sức ép cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa ngoại khối.

Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp trọng tâm nào để tận dụng cơ hội từ AEC?

Việt Nam cần tập trung nội luật hóa cam kết để cắt giảm 100% dòng thuế hàng hóa về 0%, rút ngắn thời gian thông quan dưới 24 giờ, chuẩn hóa kỹ năng lao động theo 8 thỏa thuận công nhận lẫn nhau và hỗ trợ hơn 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận thông tin quy tắc xuất xứ.

Kết luận

  • Luận văn ứng dụng thành công lý thuyết Chủ nghĩa Kiến tạo xã hội để giải mã toàn diện tiến trình hình thành và phát triển của Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
  • Xác lập sáng rõ bản chất thể chế đặc thù của AEC qua mô hình Khu vực mậu dịch tự do mở rộng và Thị trường chung thu hẹp.
  • Đánh giá thực chất khoảng cách phát triển và áp lực cạnh tranh giữa nhóm sáu nước sáng lập và nhóm bốn nước đi sau trong không gian 10 quốc gia thành viên.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi về thể chế, nhân lực, chuỗi giá trị và truyền thông cho Việt Nam giai đoạn 2012 - 2015 và tầm nhìn đến 2020.
  • Tạo dựng nguồn tư liệu khoa học chuẩn mực, phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành và hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại.

Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động khai thác các hàm ý chính sách từ luận văn để tối ưu hóa chiến lược hội nhập, biến cam kết AEC thành động lực phát triển kinh tế bền vững cho đất nước.