mở đầu cho sự hình thành ý thức về khu vực, tiếp đó là sự hợp tác chủ động giữa các nƣớc để tạo ra hội nhập khu vực. Chủ nghĩa khu vực là sự hợp tác và hội nhập chính thức (formal) nhƣ việc hai chính phủ thoả thuận thúc đẩy phát triển kinh tế hai nƣớc thông qua tự do hoá thƣơng mại và đầu tƣ (Hurrell, 1995: 334). Chủ nghĩa khu vực mới không chỉ là một khái niệm địa lý mà nó còn thể hiện một quá trình năng động, bao gồm từ sự tập trung của các mối quan hệ kinh tế cho đến các mối quan hệ về chính trị và văn hóa-xã hội. Có thể nói, chủ nghĩa khu vực mới là sự lan truyền của chủ nghĩa khu vực từ châu Âu ra toàn thế giới, thoát ra khỏi những khuôn khổ của các liên minh chính trị-an ninh trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Một mặt, nó thể hiện qua sự thành lập của Khu vực tự do thƣơng mại Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực tự do thƣơng mại Nam Mỹ (MERCOSUR), Khu vực tự do thƣơng mại vùng Caribê (CARICOM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dƣơng, các ý tƣởng xây dựng Khu vực tự do thƣơng mại toàn châu Mỹ (FTAA), và Cộng đồng kinh tế Đông Á…Mặt khác, nó kéo theo sự cải tổ của các liên kết khu vực đã đƣợc hình thành nhƣ liên kết khu vực ở châu Âu để trở thành Liên minh châu Âu (EU), của Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) để trở thành Liên minh châu Phi (AU). Đối với Đông Nam Á, chủ nghĩa khu vực mới có thể đƣợc nhìn nhận thông qua việc chuyển hƣớng hợp tác của ASEAN từ chính trị sang kinh tế và tiến tới thành lập một cộng đồng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tạo ra những hố sâu phân cách giữa “tính hiện đại” phổ quát và “bản sắc” truyền thống, giữa “phát triển” và “kém phát triển”, có thể dự đoán rằng sẽ có hai khuynh hƣớng chi phối sự phát triển và đặc điểm của chủ nghĩa khu vực trong thế kỷ 21. Khuynh hƣớng thứ nhất, phù hợp với luận điểm của chủ nghĩa kiến tạo xã hội, cho thấy rằng chủ nghĩa khu vực sẽ ngày càng hƣớng đến một “tính chất khu vực” (regionness) nhiều hơn.
Nói một cách khác, xét dƣới góc độ chính trị-xã hội, chủ nghĩa khu vực sẽ ngày càng nhấn mạnh vai trò của văn hóa, chuẩn mực (norms) và bản sắc (identity) trong quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa khu vực trong thế kỷ 21 nhƣ việc hình thành Cộng đồng ASEAN sẽ không hẳn do nhu cầu hợp tác kinh tế khu vực thúc đẩy mà sẽ do yêu cầu cần một bản sắc khu vực thúc đẩy nhiều hơn. Các lý thuyết về hội nhập khu vực Hội nhập quốc tế là hiện tƣợng xuất hiện trên cơ sở phát triển của quan hệ quốc tế. Hội nhập quốc tế bắt đầu trở thành hiện tƣợng quan trọng trong quan hệ quốc tế từ nửa cuối thế kỷ XIX.
Cho đến trƣớc Chiến tranh Thế giới II, việc nghiên cứu hiện tƣợng hội nhập chỉ đƣợc tiến hành lẻ tẻ. Sau năm 1945, những thất bại của hội nhập trƣớc đó và yêu cầu tăng cƣờng hội nhập trong thời hậu chiến đã khiến việc nghiên cứu hiện tƣợng này phát triển mạnh mẽ. Trong số các xu hƣớng lý luận về hội nhập quốc tế, nổi bật hơn cả Chủ nghĩa Chức năng Mới, Chủ nghĩa Liên bang, Chủ nghĩa Xuyên quốc gia, Chủ nghĩa liên chính phủ và chủ nghĩa liên chính phủ tự do. Chủ nghĩa Chức năng Mới (Neo-functionalism) Chủ nghĩa Chức năng Mới đƣợc bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 1950 của thế kỷ XX.
Chủ nghĩa Chức năng Mới vẫn dựa trên nền tảng lý luận cơ bản và cách tiếp cận tới hoà bình của Chủ nghĩa Chức năng cổ điển là quan niệm về con đƣờng hợp tác kinh tế-xã hội là nơi quốc gia có nhiều lợi ích chung. Hợp tác chức năng kinh tế-xã hội có tác động tới các lĩnh vực khác. Cách thức hội nhập vẫn dựa trên việc xây dựng các tổ chức chuyên môn. Các tổ chức này dần dần sẽ vƣợt lên trên quốc gia để có thể thực thi hiệu quả sự hợp tác liên quốc gia.
Trong quá trình này, các giá trị và lòng trung thành với quốc gia dân tộc sẽ dần bị xói mòn và chuyển sang các thể chế hợp tác chung. Một sự vận động nhƣ vậy sẽ thúc đẩy tiến tới hoà bình và hội nhập chính trị. Điểm khác biệt quan trọng đầu tiên giữa Chủ nghĩa Chức năng Mới với Chủ nghĩa Chức năng cổ điển là Chủ nghĩa Chức năng Mới cho rằng hội nhập theo con đƣờng hợp tác chức năng không mang tính tất nhiên mà chỉ là một khả năng và quá trình này phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Để hội nhập có thể trở thành hiện thực, các quốc gia cần phải có những điều kiện nhất định nhƣ xã hội công nghiệp, dân chủ, đa nguyên chính trị, sự thống nhất các giá trị tƣ tƣởng chủ yếu.
Có thể những điều kiện hội nhập của Chủ nghĩa Chức năng Mới còn phải tranh luận nhƣng tính điều kiện của hội nhập rõ ràng là cần thiết. Nếu con đƣờng hội nhập của Chủ nghĩa Chức năng cổ điển dựa trên sự hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, kỹ thuật và dần dần tiến tới củng cố nhận thức về hội nhập chính trị thì con đƣờng của Chủ nghĩa Chức năng mới đƣợc quan niệm bắt đầu bằng các dự án kinh tế lớn. Những ngƣời theo Chủ nghĩa Chức năng Mới cho rằng điều này dễ đạt đƣợc hơn nếu các dự án này khái quát đƣợc lợi ích quốc gia trong những lĩnh vực cụ thể mà không động chạm đến chủ quyền quốc gia. Khi đó, sự hợp tác sẽ không bị tản mác trong nhiều tổ chức chức năng chuyên môn mà đƣợc tập trung vào các cơ quan trung ƣơng cũng nhƣ trong giới tinh hoa kinh tế.
Trong quá trình này, chủ quyền quốc gia cũng sẽ đƣợc chuyển dần sang cho những cơ quan mới có vai trò trung tâm hợp tác. Nhƣ vậy, khác với Chủ nghĩa Chức năng cổ điển, Chủ nghĩa Chức năng Mới có sự quan tâm nhiều hơn tới xây dựng thể chế và có xu hƣớng tiến tới thể chế trên quốc gia rõ ràng hơn. Vai trò của cơ quan trung ƣơng và sự liên hợp lợi ích của giới tinh hoa kinh tế sẽ giúp hình thành và phát triển quan niệm hội nhập đầu tiên trong giới lãnh đạo và giới tinh hoa. Cùng với sự tăng cƣờng hội nhập, quan niệm này sẽ đƣợc phổ biến từ trên xuống đến nhân dân và dần đƣợc củng cố.
Con đường nhận thức hội nhập của Chủ nghĩa Chức năng Mới là quá trình xây dựng nhận thức từ trên xuống. Chủ nghĩa Chức năng Mới cũng nhấn mạnh hơn tới khía cạnh chính trị của hội nhập. Chủ nghĩa Chức năng Mới cho rằng không thể tách các vấn đề kinh tế-xã hội ra khỏi chính trị cũng nhƣ không thể đặt phúc lợi ra ngoài quyền lực đƣợc. Bản thân quyết định hội nhập ngay từ đầu đã mang trong mình một áp lực chính trị lớn.
Vì thế, những ngƣời theo Chủ nghĩa Chức năng Mới chủ trƣơng đẩy mạnh hợp tác để giải quyết các vấn đề chính trị chứ không né tránh chúng. Khác biệt này là cố gắng nhằm khắc phục nhƣợc điểm của Chủ nghĩa Chức năng cổ điển. Điểm khác biệt tiếp theo là về quy mô hội nhập. Chủ nghĩa Chức năng Mới thiên về hội nhập khu vực nhiều hơn là toàn cầu.
Ra đời trên sự thất bại của Hội Quốc Liên, Chủ nghĩa Chức năng cổ điển mƣu tìm một cách tiếp cận toàn cầu khác thay cho mô hình tổ chức thế giới này. Trong khi đó, Chủ nghĩa Chức năng Mới ra đời trong thực tiễn và kinh nghiệm của hội nhập Tây Âu nên mục tiêu, lý luận và cách thức hội nhập của nó hầu hết xoay quanh giới hạn không gian khu vực. Điểm khác biệt cuối cùng là Chủ nghĩa Chức năng Mới mang dáng dấp một lý thuyết hội nhập nhiều hơn là cách tiếp cận hoà bình của Chủ nghĩa Chức năng cổ điển. Tuy là một phƣơng án của Chủ nghĩa Chức năng cổ điển, Chủ nghĩa Chức năng Mới đã có sự tập trung nhiều hơn vào vấn đề hội nhập, có sự phát triển hơn về lý luận hội nhập, có mục tiêu hội nhập rõ ràng hơn, các cách thức hội nhập đề ra cũng cụ thể hơn.
Hạn chế lớn nhất của của Chủ nghĩa Chức năng Mới chính là căn nguyên thực tiễn của nó. Thứ nhất, Chủ nghĩa Chức năng Mới dựa hoàn toàn trên điều kiện thực tế ở Tây Âu trong khi hầu hết các khu vực khác trên thế giới lại không hội đủ những cơ sở và điều kiện nhƣ vậy. Sự khác nhau là rất lớn từ điều kiện thành viên tới lịch sử quan hệ, từ hình thái chế độ tới hệ thống giá trị, từ chủ nghĩa quốc gia tới quan niệm về chủ quyền,… Ngay nhƣ Bắc Mỹ là nơi có nhiều sự tƣơng đồng với Tây Âu hơn cả nhƣng cho đến nay vẫn chƣa lựa chọn con đƣờng hội nhập nhƣ của Tây Âu. Thứ hai, bản thân việc áp dụng Chủ nghĩa Chức năng Mới ở Châu Âu cũng tỏ ra không dễ dàng và bộc lộ nhiều vấn đề trên con đƣờng hội nhập nhƣ con đƣờng nhận thức từ trên xuống chƣa tỏ ra hiệu quả, những tranh cãi xung quanh bản hiến pháp Châu Âu, sự bất đồng trong chính sách tài chính và nông nghiệp, …Thứ ba, trong sự kết hợp giữa kinh tế và chính trị, Chủ nghĩa Chức năng Mới cũng chƣa có sự chú ý đầy đủ đến tính đa dạng chính trị trong lòng mỗi quốc gia, giữa các thành viên tham gia hội nhập và giữa thể chế chung với thế giới bên ngoài.
Kết quả là EU ngày nay vẫn thƣờng xuyên phải đối phó với bài toán này. Chủ nghĩa Liên bang (Federalism) Lập luận quan trọng của những ngƣời theo Chủ nghĩa Liên bang là cho rằng liên bang tồn tại cao hơn quốc gia. Khi hội nhập vào liên bang, quốc gia không còn nữa nhƣng con ngƣời sẽ dễ tồn tại hơn, các di sản quốc gia cũng sẽ an toàn hơn bởi không còn chiến tranh nữa. Lập luận này có cơ sở lý luận gần giống với quan điểm của nhà thần học Fransisco de Victoria (1480-1546) cho rằng sự phân chia thành quốc gia chỉ là thứ nguyên và nhân tạo, bản chất con ngƣời là thống nhất và cần đặt trên quốc gia.
Mục tiêu tối hậu của Chủ nghĩa Liên bang hoàn toàn trùng với ý kiến của Albert Einstein: “Không có sự cứu tế nào cho nền văn minh hay cho cả loài ngƣời hơn là việc tạo ra một chính phủ thế giới”1.Mục tiêu này khác hẳn với Chủ nghĩa Chức năng Mới và càng khác với Chủ nghĩa Chức năng cổ điển.