Chu Mạnh Trinh trong Đời Sống Văn Hóa và Văn Học Việt Nam Cuối Thế Kỷ XIX Đầu Thế Kỷ XX

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu ussh chu mạnh trinh trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ xix đầu, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CHU MẠNH TRINH – TIỂU SỬ VÀ GIAI THOẠI

1.1. Xã hội Bắc Kì những năm cuối thế kỉ XIX

1.2. Thân thế Chu Mạnh Trinh

1.3. Con đường hoạn lộ của Chu Mạnh Trinh

1.4. Di sản của Chu Mạnh Trinh

2. CHƯƠNG 2: TRƯỚC TÁC VĂN CHƯƠNG CỦA CHU MẠNH TRINH

2.1. Thơ văn của Chu Mạnh Trinh nhìn từ chủ đề, đề tài

2.1.1. Bình, vịnh Kiều

2.1.2. Bằng hữu – thù tạc

2.1.3. Người đào hát

2.2. Thơ văn Chu Mạnh Trinh nhìn từ thể và thể loại

2.2.1. Thơ Đường luật

3. CHƯƠNG 3: CHU MẠNH TRINH TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC

3.1. Hát nói của Chu Mạnh Trinh – sự phục hồi của hát nói trong môi trường mới. Môi trường đô thị hóa thực dân – tiền đề của sự phục hồi hát nói nửa cuối thế kỉ XIX. Chu Mạnh Trinh trong sự phục hồi hát nói

3.2. Bình, vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh trong lịch sử bình giá Truyện Kiều. Lịch sử bình, vịnh Kiều

3.3. Cuộc thi vịnh Kiều năm 1905. Tập vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chu Mạnh Trinh và di sản văn hóa Việt Nam

Chu Mạnh Trinh là một trong những nhà thơ nổi bật của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ông không chỉ là một nhà thơ tài năng mà còn là một nhân vật có ảnh hưởng lớn đến văn hóa và văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Di sản văn hóa mà ông để lại không chỉ nằm ở những tác phẩm thơ ca mà còn ở những giá trị văn hóa sâu sắc mà ông đã truyền tải qua ngòi bút của mình.

1.1. Tiểu sử và bối cảnh xã hội của Chu Mạnh Trinh

Chu Mạnh Trinh sinh ra trong một bối cảnh xã hội đầy biến động. Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam đang chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sáng tác của ông.

1.2. Những tác phẩm nổi bật của Chu Mạnh Trinh

Tác phẩm của Chu Mạnh Trinh chủ yếu tập trung vào thể loại thơ Nôm, trong đó nổi bật là các bài thơ vịnh Kiều. Ông đã giành giải nhất trong cuộc thi vịnh Kiều năm 1905, khẳng định tài năng của mình.

II. Những thách thức trong sự nghiệp của Chu Mạnh Trinh

Dưới áp lực của thực dân Pháp, Chu Mạnh Trinh phải đối mặt với nhiều thách thức trong sự nghiệp sáng tác của mình. Ông không chỉ phải đấu tranh với những khó khăn trong việc duy trì bản sắc văn hóa mà còn phải tìm cách thể hiện tiếng nói của mình trong một xã hội đang bị áp bức.

2.1. Sự phân hóa trong giới trí thức

Trong bối cảnh xã hội Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX, giới trí thức bị phân hóa thành nhiều nhóm khác nhau. Một số người theo Pháp, trong khi những người khác vẫn giữ lòng yêu nước và tìm cách chống lại sự đô hộ.

2.2. Áp lực từ chính quyền thực dân

Chính quyền thực dân đã tạo ra nhiều áp lực lên các nhà văn, nhà thơ, khiến cho việc sáng tác trở nên khó khăn hơn. Chu Mạnh Trinh phải tìm cách vượt qua những rào cản này để thể hiện tiếng nói của mình.

III. Phương pháp sáng tác của Chu Mạnh Trinh

Chu Mạnh Trinh sử dụng nhiều phương pháp sáng tác độc đáo, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Ông đã khéo léo lồng ghép các yếu tố văn hóa dân gian vào trong tác phẩm của mình, tạo nên một phong cách riêng biệt.

3.1. Kết hợp giữa thơ Đường và thơ Nôm

Ông đã sử dụng thể thơ Đường luật kết hợp với thơ Nôm, tạo ra những tác phẩm vừa mang tính truyền thống vừa hiện đại. Điều này giúp ông tiếp cận được nhiều đối tượng độc giả.

3.2. Sử dụng hình ảnh và biểu tượng trong thơ

Chu Mạnh Trinh thường sử dụng hình ảnh và biểu tượng để thể hiện tâm tư, tình cảm của mình. Những hình ảnh này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.

IV. Ứng dụng thực tiễn của di sản văn hóa Chu Mạnh Trinh

Di sản văn hóa của Chu Mạnh Trinh không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa trong việc giáo dục thế hệ trẻ về văn hóa và văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường học.

4.1. Giá trị giáo dục từ tác phẩm của Chu Mạnh Trinh

Tác phẩm của ông thường được sử dụng trong giảng dạy văn học, giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử Việt Nam trong giai đoạn khó khăn.

4.2. Di sản văn hóa phi vật thể

Ngoài các tác phẩm văn học, di sản văn hóa của Chu Mạnh Trinh còn bao gồm các phong trào văn hóa, nghệ thuật mà ông đã góp phần xây dựng, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng.

V. Kết luận về di sản văn hóa của Chu Mạnh Trinh

Di sản văn hóa của Chu Mạnh Trinh là một phần không thể thiếu trong lịch sử văn học Việt Nam. Ông không chỉ là một nhà thơ tài năng mà còn là một nhân vật có ảnh hưởng lớn đến văn hóa dân tộc. Những tác phẩm của ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

5.1. Tương lai của nghiên cứu về Chu Mạnh Trinh

Nghiên cứu về Chu Mạnh Trinh cần được tiếp tục để khám phá sâu hơn về những giá trị văn hóa mà ông để lại cho thế hệ sau.

5.2. Di sản văn hóa trong bối cảnh hiện đại

Trong bối cảnh hiện đại, di sản văn hóa của Chu Mạnh Trinh vẫn có thể được áp dụng và phát triển, góp phần vào việc gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chu mạnh trinh trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu B: Nội dung: kết cấu thành 3 chƣơng Chƣơng 1: Chu Mạnh Trinh - Tiểu sử và giai thoại Chƣơng 2: Trƣớc tác văn chƣơng của Chu Mạnh Trinh Chƣơng 3: Chu Mạnh Trinh trong lịch sử văn học C: Kết luận Ngoài ra luận văn còn có phần Thƣ mục tham khảo và Phụ lục. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CHU MẠNH TRINH – TIỂU SỬ VÀ GIAI THOẠI 1. Xã hội Bắc Kì những năm cuối thế kỉ XIX Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX đƣợc xem là chính thức bắt đầu một bi kịch dân tộc, và đỉnh điểm là việc triều đình kí với Pháp hiệp ƣớc Patenôtre (hay còn gọi là hòa ƣớc Giáp Thân) năm 1884.

Nội dung của Hiệp ƣớc là Pháp chia Việt Nam thành 3 kì, trong đó Nam Kì là đất thuộc địa, Bắc Kì là đất nửa bảo hộ, Trung Kì là đất bảo hộ. Từ đây Việt Nam chính thức trở thành xứ sở thuộc địa. Ở Bắc Kì trên danh nghĩa triều đình Huế còn quyền hành nhƣng trên thực tế mọi việc do ngƣời Pháp điều khiển. Toàn bộ Bắc Kì do phủ Thống sứ quản lí đứng đầu là viên Thống sứ.

Trong 5 năm làm Toàn quyền Đông Dƣơng (1897- 1902) Paul Doumer bãi bỏ chức Kinh lƣợc Bắc Kì của triều đình Huế, đặt miền này duới sự chỉ huy thống nhất của Thống sứ Pháp. Ở bộ máy chính quyền thuộc địa, quan chức từ cấp tỉnh trở lên đến Toàn quyền Đông Dƣơng là do ngƣời Pháp nắm giữ. Tất cả quyền lực trong một tỉnh đều do viên Công sứ Pháp (Bắc Kì, Trung Kì) thâu tóm. Trong thực tế, kể từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XIX Việt Nam đã là một thuộc địa hoàn toàn, ngay cả việc đƣa một vị vua lên ngôi, dù chỉ là vua bù nhìn Hội đồng phụ chánh triều đình Huế cũng phải đƣợc sự thỏa thuận của Khâm sứ Pháp.

Đặc biệt sau kí kết hiệp ƣớc Patenôtre, trong đó theo điều 7, Trú sứ (Résident) Pháp ở các tỉnh lị không tham dự vào việc dân chánh của các quan chức Nam triều. Các quan chức Nam triều vẫn tiếp tục cai trị nhƣ cũ nhƣng khi Pháp yêu cầu cách chức viên quan nào thì triều đình phải theo. Nhƣ vậy Pháp bắt đầu tiến tới thao túng toàn bộ triều đình và can thiệp vào việc cai trị dân sự ở Việt Nam. Nói cách khác thực dân Pháp đã tấn công vào thành lũy vững chắc của một thể chế nhà nƣớc, hạ bệ sự linh thiêng mang tên thiên tử, làm tê liệt hoạt động của một hệ thống chính trị.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tình hình đó, quan lại trong triều lại bị phân hóa. Một phần nhỏ theo Pháp trở thành tay sai đàn áp dân chúng. Số khác vẫn giữ tấm lòng trinh bạch vẫn yêu nƣớc nhƣng bất lực nên đã cáo quan về ở ẩn. Một số mang tâm lí tùy thời không theo Pháp mà cũng không phản dân.

Bên cạnh đó, có một bộ phận các sĩ phu yêu nƣớc không dễ dàng chấp nhận sự đô hộ của thực dân. Họ thành những thủ lĩnh trong các cuộc nổi dậy vũ trang trên khắp đất nƣớc. Tại Bắc Kì có khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889) Hƣng Yên của Nguyễn Thiện Thuật, phong trào kháng chiến ở Thái Bình, Nam Định của Tạ Quang Hiện và Phạm Huy Quang, khởi nghĩa Hƣng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và Yên Bái, khởi nghĩa Sông Đà (1885- 1892) của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa Bình. Tuy nhiên, đến năm 1895 về cơ bản phong trào Cần Vƣơng bị dập tắt.

Lớn mạnh và kéo dài nhất là khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884-1913) do Đề Thám chỉ huy với căn cứ rộng khắp từ Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Hà Nội, Yên Thế, Hải Phòng, Bắc Giang, song rốt cục cũng bị dập tắt vào năm 1913. Về kinh tế, sau khi đã hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về quân sự thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất từ năm 1897. Quá trình này đã khiến kinh tế Bắc Kì từ nông nghiệp đến công nghiệp, thƣơng nghiệp và giao thông vận tải bắt đầu biến đổi. Về cơ bản thì tình hình kinh tế Bắc Kì cùng nằm trong quỹ đạo điều hành kinh tế của Pháp trên toàn cõi Đông Dƣơng.

Công cuộc khai thác kinh tế của Pháp cũng đã kéo theo hệ thống giao thông thông suốt, đặc biệt là các trục đƣờng chính, theo đó nhiều đô thị mới xuất hiện mang một diện mạo mới nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai. Về giáo dục, sau khi thôn tính Bắc Kì vào năm 1882 thực dân Pháp tiến hành cải cách giáo dục để đào tạo đội ngũ viên chức thừa hành, cũng nhƣ tạo một ảnh hƣởng lớn về tinh thần văn hóa tại Việt Nam. Năm 1886 trƣờng Pháp Việt đầu tiên xuất hiện ở Bắc Kì. Việc xóa bỏ trƣờng dạy chữ Nho ở Bắc Kì diễn ra chậm hơn ở Nam Kì.

Trƣờng học theo lối cũ vẫn tiếp tục tồn tại và đƣa vào hệ thống trƣờng công đặt dƣới sự giám sát của Sở Học chính Bắc Kì. Đồng thời các kì thi Nho giáo cũng đƣợc cải cách, bổ sung thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, toán và một số môn khoa học khác. Bắt đầu từ khoa thi Đinh Dậu (1897) các môn thi đã đƣợc cải cách nhƣ thế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Thân thế Chu Mạnh Trinh Chu Mạnh Trinh sinh năm Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức thứ 15 (1862), tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân. Theo giai thoại, thân mẫu đã mang thai Chu Mạnh Trinh trong một buổi chiều xuôi đò từ Tân Đệ đến vƣờn chuối bãi Xuôi (huyện Văn Giang), bà chợp ngủ mơ và gặp một cậu bé đọc sách trong một am vắng. Giấc mộng linh ứng, về nhà bà có thai và sinh đƣợc Chu Mạnh Trinh. Làng Phú Thị, tổng Mễ Sở (nay là huyện Văn Giang tỉnh Hƣng Yên), quê Chu Mạnh Trinh, vốn nổi tiếng là nơi địa linh nhân kiệt.

Từ thế kỉ VI, năm 548, Triệu Quang Phục đã dựa vào rừng lau sậy um tùm lầy lội từ Văn Giang đến Khoái Châu làm vùng tập kích các doanh trại của giặc và chém đƣợc tƣớng Dƣơng Sàn, dân đã tôn ông là Dạ Trạch Vƣơng lập đền thờ ở Khúc Lộc. Đến thế kỉ thứ XIII, ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông nơi đây vừa là hậu phƣơng vừa là tiền tuyến đánh giặc. Vì những công tích đặc biệt đó, làng Phú Thị cùng nhiều làng khác trong tổng Mễ Sở đã đƣợc vua Trần Nhân Tông ban tặng ba chữ “vũ hùng môn” để ghi nhớ thời gian bền chí đánh giặc Nguyên Mông, là kho lƣơng thực của quân đội nhà Trần. Ba chữ đó đã đƣợc khắc lên cổng làng, thể hiện lòng tự hào về sự phú cƣờng và lịch sử đoàn kết đánh giặc cứu nƣớc.

Cuối thế kỉ XIX Phú Thị cũng là một trong những trung tâm kháng chiến chống Pháp. Không chỉ có thế, nơi đây còn là vùng đất văn hiến có truyền thống hiếu học có nhiều nhà khoa bảng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhƣ Tiến sĩ Đặng Khanh khai khoa từ thời Lê. Trong làng đời nào cũng có ngƣời đỗ đạt, hầu nhƣ xã nào cũng có ngƣời học giỏi, thi đỗ, làm quan giữ trọng trách trong triều, nhiều vị đƣợc cử đi sứ nƣớc ngoài. Trong lịch sử 825 năm Hán học, tỉnh Hƣng Yên có 214 vị đỗ đại khoa thì riêng huyện Văn Giang có 72 vị, chiếm hơn một phần ba cả tỉnh.

Dân làng trong tổng Mễ luôn tự hào về truyền thống văn học với họ Đặng, họ Dƣơng, họ Trần, họ Chu. Huyện Văn Giang nằm ở bên tả ngạn sông Hồng cách Hà Nội chừng 20 km giữa vùng đồng bằng châu thổ miền Bắc, đất đai phì nhiêu. Văn Giang có địa hình tƣơng đối bằng ph ng, và có đoạn sông Hồng chảy qua chừng 2 km. Địa thế giữa Hà Nội và phố Hiến lại có con sông lớn nhất Bắc Kì chảy qua tạo điều kiện cho sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giao thoa văn hóa vùng miền thuận lợi, đặc biệt là ảnh hƣởng văn hóa của vùng trung tâm từ Hà Nội đến đây rất nhanh nhạy.

Sinh ra trong một quê hƣơng nhƣ thế có thể đƣợc xem là may mắn với Chu Mạnh Trinh. Về dòng dõi, tiên thế của Chu Mạnh Trinh theo nghiệp nông, vốn là một nhà dân thƣờng đến đời phụ thân mới thi đỗ cử nhân làm quan đến Ngự sử. Thân phụ Chu Mạnh Trinh là Chu Duy Tĩnh làm quan Ngự sử, biệt hiệu là Trực Phu, theo truyền ngôn rất đƣợc nhân dân yêu mến, bạn bè quý trọng. Chu Mạnh Trinh ra đời trong hoàn cảnh phụ thân đã vào độ tuổi vọng lão (50 tuổi) mới sinh đƣợc con đầu nối dõi.

Vì khó thích nghi với chốn quan trƣờng “quần ngƣ tranh thực” đƣơng thời, lại do muốn tập trung lo dạy cậu con vừa đến tuổi khai tâm (6 tuổi) thân phụ Chu Mạnh Trinh đã nại cớ đau mắt, xin cáo quan về nhà. Vậy là Chu Mạnh Trinh đã đƣợc tiếp nhận kho tri thức Hán học, từ trong gia đình, ngay từ tuổi nhỏ. Con đường hoạn lộ của Chu Mạnh Trinh Cuộc đời Chu Mạnh Trinh nằm trọn trong những năm cam go của lịch sử đất nƣớc và nền Hán học đang suy tàn ở nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Sau thời gian đƣợc cha dạy đạo, dạy chữ, Chu Mạnh Trinh đƣợc thân phụ gửi cho một ngƣời bạn là phó bảng Phạm Hy Lƣợng, từng làm tuần phủ Ninh Bình, với quan niệm “Dịch tử nhi giáo” (đổi con mà dạy).

Năm Canh Thìn (1880) Chu Mạnh Trinh 19 tuổi dự thi Hƣơng đỗ Tú tài. Nổi tiếng thông minh, ham học từ nhỏ, lại đƣợc kèm cặp chu đáo nên kết quả này khiến cả gia đình và thầy dạy thất vọng. Từ đó Chu Mạnh Trinh không dám ham chơi mà ở nhà chuyên tâm học hành. Năm Bính Tuất niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1886) ông đỗ Giải nguyên tại trƣờng thi Nam Định.

Năm Nhâm Tuất niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892) Chu Mạnh Trinh dự thi Hội, thi Đình. Trong bảng đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Chu Mạnh Trinh đứng tên thứ 3. Nhƣng khi Chu Mạnh Trinh đạt tới đỉnh cao danh vọng chuẩn bị nhập thế thì đất nƣớc lại gặp nghịch cảnh éo le. Năm Quý Tị niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893) sau khi đỗ đại khoa, Chu Mạnh Trinh đƣợc bổ Tri phủ Lí Nhân tỉnh Hà Nam.

Nhậm chức đƣợc 3 tháng thì thân phụ mất, ông về cƣ tang cha. Những năm làm quan sau đó của Chu Mạnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trinh có nhiều điểm chƣa thống nhất giữa các tài liệu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ