phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, ba chương, 8 tiết, phục lục, danh mục công trình khoa học của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo. 11 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các công trình khoa học nƣớc ngoài nghiên cứu về độc quyền, chống độc quyền doanh nghiệp * Các công trình nghiên cứu liên quan đến độc quyền, độc quyền doanh nghiệp Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến độc quyền, độc quyền doanh nghiệp, trong đó phải kể đến tác phẩm “Kinh tế học” của P.Samuelson, độc quyền là một người bán duy nhất có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với toàn bộ ngành, ở đó chỉ có một người sản xuất trong ngành và không có ngành nào sản xuất ra các mặt hàng thay thế gần gũi.Samuelson cho rằng, để kiềm chế sức mạnh thị trường, Chính phủ nên điều tiết những ngành có quá ít hàng để có thể khuyến khích cạnh tranh mạnh mẽ. Chính phủ nên điều tiết những ngành, đặc biệt là trong trường hợp cực đoan về độc quyền tự nhiên, khi độc quyền xảy ra.Samuelson cho rằng, phải có chính sách chống Tơ- rớt với các đạo luật khung, và xây dựng chính sách khuyến khích cạnh tranh, theo đó cần hạ thấp hàng rào gia nhập thị trường để khuyến khích các doanh nghiệp khác tham gia, tạo sự liên thông giữa thị trường trong và ngoài nước, và thực hiện đánh thuế để giảm nhẹ tác động của thu nhập đối với các hãng độc quyền, tuy nhiên, không nên quá lạm dụng.
Một trong những học giả được giới khoa học đánh giá rất cao trong giai đoạn hiện nay là Michael E. Porter, ông đã xuất bản ba cuốn sách hết sức có giá trị, “Chiến lược cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” [63]. Porter đã đưa ra một trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất là: Ba chiến lược cạnh tranh phổ quát - chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm. Tác giả chỉ rõ, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và cả các hoạt động của khách hàng nữa.
Porter, cạnh tranh để trở thành giỏi nhất. Cạnh tranh để trở 12 thành độc nhất vô nhị. Porter khẳng định, không có công ty tốt nhất bởi cái tốt nhất tùy thuộc vào nhu cầu của từng khách hàng. Vì thế, chiến lược của công ty sẽ không phải là trở thành tốt nhất, mà phải trở thành độc nhất vô nhị, là khác biệt.
Tác giả cho rằng, trong chiến lược, sai lầm lớn nhất là cạnh tranh trực tiếp trên cùng một quy mô, một lĩnh vực với đối thủ. Porter chi ra, việc lặp lại những việc mà người khác đã làm sẽ là không hiệu quả. “Chạy theo” không phải là tư duy chiến lược mà là cái bẫy. Từ đó tác giả khẳng định, những công ty thành công là những công ty biết tạo ra các giá trị mới dựa trên việc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng.
Mặc dù vấn đề chủ yếu được Michael E. Porter đề cập là cạnh tranh, nhưng thông qua các cuốn sách đã gợi mở cho nghiên cứu sinh nhiều vấn đề khi bàn về chống độc quyền, bởi mặt đối lập của cạnh tranh là độc quyền, để chống độc quyền hiệu quả thì cần có một chính sách cạnh tranh minh bạch, rõ ràng, một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Vì vậy, cần phải đặt chống độc quyền trong mối quan hệ với cạnh tranh, qua đó lột tả rõ bản chất của vấn đề chống độc quyền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề độc quyền, chống độc quyền tiếp tục được các học giả phân tích, luận giải dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Chẳng hạn, học giả Ben W. Depoorter trong cuốn “5400 Regulation of natural monopoly”của Center for Advanced Studies in Law and Economics University of Ghent, Faculty [113]. Hay tác giả Patrick Rey và Paul Seabright với cuốn sách“The activities of a monopoly firm in adjacent competitive markets: Economic consequences And Implications For Competition Policy” [117]. Đề tài,“Firms with market power: monopoly” của Ali Emami [112].
Tác giả Ferguson, Paul R với cuốn sách“Business economic: the application of economic theory” [114]. Nhìn chung, các tác giả đều có cách tiếp cận, đánh giá về độc quyền và chống độc quyền trong nền kinh tế thị trường khá tương đồng dưới góc độ kinh tế học. Depoorter khẳng định, độc quyền tự nhiên tồn tại trong một ngành công 13 nghiệp mà một công ty đó có thể sản xuất hàng hóa để cung cấp cho thị trường với chi phí thấp hơn so với hai hay nhiều doanh nghiệp. Cùng góc nhìn đó, Patrick Rey và Paul Seabright đề cập đến hoạt động của các công ty độc quyền trong thị trường cạnh tranh - hậu quả kinh tế và những hệ lụy đối với chính sách cạnh tranh.
Tác giả phân tích các hành vi chống cạnh tranh, sự đổi mới của các công ty độc quyền nhằm củng cố vị trí độc quyền; sức mạnh thị trường và sự đổi mới trong thị trường độc quyền. Vấn đề lợi nhuận được Ali Emami luận giải, cho rằng, tối đa hóa lợi nhuận là động cơ đối với các công ty độc quyền. Mô tả hoạt động của công ty độc quyền, Ali Emami đã chỉ ra lý do tại sao một công ty độc quyền có thể tránh được sự cạnh tranh của các công ty khác, những áp lực liên tục để giảm chi phí, nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ali Emami nhấn mạnh, thực tế là các công ty độc quyền hoạt động như một nhà tạo giá hơn là một nhà lấy giá trên thị trường do sức mạnh thị trường của công ty.S Department of Justice, “Competition and monopoly: single- firm conduct under section 2 of the Sherman act” [119], khi đề cập tới sức mạnh của độc quyền khẳng định, nó có thể tác động tiêu cực cho xã hội bằng việc làm cho sản lượng thấp hơn, giá cao hơn và đổi mới ít hơn trong một thị trường cạnh tranh.
Và chính sự hiểu rõ về sức mạnh của độc quyền sẽ rất hữu ích trong việc tạo chính sách chống độc quyền phù hợp với các công ty độc quyền. Tác giả Russell Pittman, Vụ Chống Ðộc quyền, Bộ Tư pháp Mỹ với bài viết, “Tại sao phải có chính sách cạnh tranh - đặc biệt đối với những nước đang phát triển”, được đăng trên http://vietnamese. Russell Pittman đã chỉ ra trong một số bối cảnh, sức mạnh của thị trường không bảo vệ được sự cạnh tranh trong kinh doanh và lợi ích mà sự cạnh tranh đó đem lại cho người tiêu dùng thì cần phải có chính sách cạnh tranh. * Các công trình nghiên cứu liên quan đến chống độc quyền doanh nghiệp Theo X.Nicitin trong cuốn “Chính sách chống độc quyền ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển” [110], tác giả đã khẳng định, đối tượng của Luật Chống độc quyền của các nước tư bản phát triển chính là các tập đoàn kinh tế thống 14 trị, các nước phát triển đều xây dựng Luật Chống độc quyền với những tên gọi khác nhau.
Tác giả đã đưa ra quan niệm về “người sản xuất lớn”, theo đó, những người sản xuất lớn này sản xuất phần lớn sản phẩm của ngành và do đó có khả năng thực hiện chính sách độc quyền một cách độc lập hoặc thỏa thuận về sự độc quyền trong mối quan hệ của chính sách thị trường thống nhất. Để thực hiện Luật Chống độc quyền, tác giả đưa ra các phương pháp mà các nước đã áp dụng đó là phương pháp tòa án - pháp luật và phương pháp hành chính. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra tính đặc thù dân tộc của hoạt động chống độc quyền, theo đó hoạt động chống độc quyền ở các nước sẽ khác nhau có nền kinh tế thị trường phát triển khác nhau. Một số học giả khác có những quan điểm khá đồng thuận về đề cao vai trò của Chính phủ trong chống độc quyền.
Chẳng hạn, tác giải Howard D. Marshall với cuốn sách “Business and government: The problem of power” [116]; hay tác giả Stephen J. Walters, “Enterprise, government, and the public” [118]; tác giả Christopher: “Outline of the U. Economy” dịch “Phác thảo nền kinh tế Mỹ” [32].
Marshall, cần phải có các chính sách chống độc quyền và đường lối chỉ đạo của Chính phủ trong việc kinh doanh mang tính chất nhà nước. Đó là sức mạnh của quyền lực nhà nước. Đồng tình với quan điểm đó, Stephen J. Walters đề cập về sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường, khẳng định, Chính phủ phải can thiệp vào thị trường, và để can thiệp vào thị trường thì Chính phủ phải có những giải pháp hiệu quả, nhất là chính sách công hướng vào độc quyền.
Còn tác giả Christopher cho rằng, vai trò của Chính phủ và hoạt động điều tiết của Nhà nước rất quan trọng đối với sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Christopher chứng minh vai trò các hoạt động của Chính phủ Mỹ trong chống độc quyền như: Sự ra đời của luật chống độc quyền; sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các công ty lớn với nhau; vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế trước sự phát triển mạnh mẽ của các công ty, các tập đoàn công nghiệp và nỗ lực của Liên bang trong kiểm soát độc quyền… Những quan điểm trên đã gợi mở cho nghiên cứu sinh trong vấn đề nghiên cứu. Các công trình khoa học trong nƣớc nghiên cứu về độc quyền, chống độc quyền doanh nghiệp * Các công trình đề cập đến độc quyền, độc quyền doanh nghiệp Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia: “Tác động của cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại tới xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [62]. Đề tài mang đậm nét của kinh tế chính trị học, những luận giải, phân tích được các nhà khoa học đề cập hết sức sâu sắc, đóng góp không nhỏ vào phát triển lý luận về cạnh tranh và độc quyền trong kinh tế thị trường.
Thành công của đề tài là đã hệ thống hóa được những quan điểm lý luận và thực tiễn lịch sử về cạnh tranh và độc quyền; những biểu hiện mới của cạnh tranh và độc quyền trong giai đoạn hiện nay, và những nét cơ bản về tác động của cạnh tranh và độc quyền đối với nền kinh tế thế giới. Điểm mà nghiên cứu sinh thấy tâm đắc là: Đề tài đã chứng minh được về mặt lý thuyết cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, với phương pháp trừu tượng hóa khoa học, đề tài đã luận bàn khá thuyết phục mối quan hệ cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.