phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo trong những năm 1997- 2005 Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện chính sách giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 Chƣơng 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÖC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2005 1. Cơ sở hình thành chủ trƣơng xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1997 – 2005) 1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xoá đói, giảm nghèo (1997 – 2005) * Quan niệm về nghèo đói và nhận dạng nghèo đói Có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói, song, có thể nói, về cơ bản, nó đƣợc coi là tình trạng không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu nào đó. Nói cách khác, đó là “sự thiếu hụt” - xét trên ba khía cạnh: 1.
Không đƣợc hƣởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con ngƣời; 2. Có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu dành cho con ngƣời; 3. Thiếu cơ hội đƣợc lựa chọn tham gia vào các quá trình phát triển cộng đồng. Liên Hiệp Quốc đã đƣa ra hai khái niệm chính về nghèo đói: Nghèo tuyệt đối, là tình trạng không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối, là tình trạng không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu nhƣ ăn, ở, mặc, vệ sinh, y tế và giáo dục. Nghèo tƣơng đối đƣợc xem nhƣ là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những ngƣời thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Ở Việt Nam, khái nghiệm nghèo, đói đƣợc tách riêng. Nghèo là tình trạng chỉ đƣợc thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn so với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện.
Đói là tình trạng có mức sống dƣới mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Những hộ đói thƣờng thiếu ăn, đứt bữa từ 1 - 2 tháng/năm. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn đối với ngƣời dân thì quan niệm của họ rất đơn giản và thực tế: “Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân”[38, 17]. Nhƣ vậy, có thể hiểu và đƣa ra một khái niệm chung về nghèo đói nhƣ sau: Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn xã hội đã được thừa nhận.
Chuẩn nghèo (hay ngƣỡng nghèo, tiêu chí nghèo) là công cụ để phân biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo, là chuẩn mực tối thiểu cho một cá nhân đáp ứng đƣợc nhu cầu cơ bản của họ về lƣơng thực thực phẩm và yếu tố phi lƣơng thực thực phẩm. Những ngƣời đƣợc coi là ngƣời nghèo khi mức sống của họ đƣợc đo qua thu nhập thấp hơn một mức sống tối thiểu chấp nhận đƣợc, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những ngƣời có thu nhập ở trên chuẩn này là ngƣời không nghèo hoặc đã vƣợt nghèo, thoát nghèo. Chuẩn nghèo là một khái niệm “động”, thay đổi theo không gian và thời gian.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, mỗi giai đoạn khác nhau thì chuẩn nghèo lại khác nhau. Ở Việt Nam, do xuất phát từ một nƣớc nông nghiệp, nên chuẩn nghèo đói ở Việt Nam, thời gian từ năm 1996 về trƣớc tính theo mức chi tiêu bằng lƣơng thực (quy gạo) là chính, về sau mới đƣợc tính theo giá trị bằng tiền. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tế, Bộ Lao động - TB&XH đã công bố chuẩn nghèo đói quốc gia nhƣ sau: Thời kỳ trƣớc năm 1997: Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong một hộ trong một tháng quy ra gạo là dƣới 13kg, tính cho mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập dƣới 15kg/ngƣời/tháng đối với vùng nông thôn, miền núi, hải đảo; dƣới 20kg/ngƣời/tháng đối với nông thôn vùng đồng bằng trung du; dƣới 25kg/ngƣời/tháng đối với thành thị.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giai đoạn 1997 - 2000: Bộ Lao động - TB&XH đã ra công văn số 1751/LĐTB&XH ngày 20/5/1997 quy định lại chuẩn nghèo: - Hộ đói: dƣới 13kg gạo/ngƣời/tháng tƣơng đƣơng với 45.000đ - Hộ nghèo: là hộ có thu nhập dƣới 15kg gạo/ngƣời/tháng tƣơng đƣơng với 55.000đ đối với vùng nông thôn miền núi và hải đảo; dƣới 20kg gạo/ngƣời/tháng tƣơng đƣơng với 70.000đ đối với nông thôn đồng bằng trung du; dƣới 25kg gạo/ngƣời/tháng tƣơng đƣơng với 90.000đ đối với vùng thành thị. Giai đoạn 2001 - 2005: Theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH của Bộ Lao động - TB&XH về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 thì chuẩn nghèo đƣợc tính theo mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ cho từng vùng. Cụ thể: - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ/ngƣời/tháng (960.000đ/năm) - Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/ngƣời/tháng (1. - Vùng thành thị: 150.000đ/ngƣời/tháng (1.
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới mức quy định trên đƣợc xác định là hộ nghèo. Giai đoạn 2006 – 2010, chuẩn nghèo đƣợc quy định nhƣ sau: - Vùng nông thôn: 400.000 đồng/ngƣời/tháng. - Vùng thành thị: 500.000 đồng/ngƣời/tháng. Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo trên 40%, không có hoặc còn thiếu các hạng mục cơ sở hạ tầng nhƣ trạm y tế, trƣờng tiểu học, điện sinh hoạt, đƣờng ô tô tới trung tâm xã, chợ xã hoặc liên xã, nƣớc sạch sinh hoạt.
Xã ĐBKK là xã có 5 tiêu chí sau đây: - Địa bàn cƣ trú gồm các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao hẻo lánh, vùng biên giới, hải đảo. Khoảng cách từ các xã đến các khu động lực phát triển lớn hơn 20 km. - Cơ sở hạ tầng chƣa đƣợc xây dựng hoặc còn tạm bợ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các yếu tố xã hội chƣa đạt mức tối thiểu, dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ và thất học trên 60%, tập tục lạc hậu,.
- Điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu thốn, sản xuất mang tính tự nhiên, hái lƣợm, chủ yếu là phát rừng làm nƣơng rẫy, du canh du cƣ - Số hộ nghèo đói trên 60% số hộ của xã. Đời sống khó khăn, nạn đói thƣờng xuyên xảy ra. Mức quy định xã nghèo và xã ĐBKK áp dụng chung cho các giai đoạn từ 1997 đến nay. Nhƣ vậy, theo từng giai đoạn, chuẩn nghèo ở nƣớc ta đã đƣợc điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong từng giai đoạn đó.
Chuẩn nghèo tăng theo từng giai đoạn chứng tỏ nền kinh tế - xã hội đất nƣớc ngày một phát triển và đã bƣớc đầu phát triển với tốc độ tăng trƣởng cao, đồng thời cũng chứng tỏ những thành công rất lớn của nƣớc ta trong công tác xóa đói giảm nghèo sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới đất nƣớc. * Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự phân hóa giàu nghèo bị chi phối bởi chính các qui luật phổ biến của quá trình trao đổi hàng hóa, trong đó có vai trò quyết định là qui luật giá trị. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: với sự mở rộng thƣơng mại, với tiền và cho vay nặng lãi,., sự tập trung của cải vào tay giai cấp ít ngƣời đã diễn ra nhanh chóng, cùng một lúc sự bần cùng hóa ngày càng tăng của quần chúng và sự tăng thêm của đám đông dân nghèo. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Lênin đã nhấn mạnh cần phải xóa bỏ sự chênh lệch ấy, bởi lẽ cuộc sống độc lập, tự do và không bị đói nghèo, dốt nát là những quyền cơ bản nhất của con ngƣời: Hãy xóa bỏ nạn ngƣời bóc lột ngƣời, nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ.
Quan điểm trên đây đồng thời cũng là niềm trăn trở suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh – ngƣời học trò xuất sắc của Lênin. Cả cuộc đời của mình, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngƣời “chỉ có một ham muốn tột bậc là làm cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [27, tr. Tại Hội nghị sản xuất cứu đói đƣợc tổ chức vào tháng 7 năm 1955, Ngƣời đã từng nói: Dân dĩ thực vi tiên (nghĩa là dân lấy ăn làm trời), Có thực mới vực được đạo (nghĩa là không có ăn thì chẳng làm đƣợc gì cả). Ngƣời nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân.
Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi”[29, 572]. Ngƣời cho rằng, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm” [28, tr.
62], bởi vì: Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững, cây mới bền. Thiết thực nhất của việc bồi dƣỡng “cái gốc” ấy chính là việc thƣờng xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu giành độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ là diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Ngƣời coi “giặc đói” cũng nguy hiểm chẳng khác nào “giặc ngoại xâm”, phát động phong trào toàn dân tham gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để kiến quốc mà trƣớc hết là diệt “giặc đói” và “giặc dốt”. Và theo Ngƣời, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng phải đi liền với tinh thần ngày càng tốt, bên cạnh xóa đói, giảm nghèo về vật chất phải chú ý đến xóa đói, giảm nghèo về tinh thần.