phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương (6 tiết). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Những yếu tố tác động đến thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2005 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa tác động đến thực hiện chính sách xã hội của Thành phố Hà Nội *Địa – tự nhiên Hà Nội – Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau đợt điều chỉnh địa giới từ 01-8-2008 có diện tích tự nhiên 3. Hà Nội tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam và Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên ở phía Đông; Hòa Bình và Phú Thọ ở phía Tây. Ở vào vị trí trung tâm nên Hà Nội có khả năng giao lưu rộng rãi và thuận tiện trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật, là tiền đề cho việc đẩy mạnh và mở rộng phát triển thành phố, nhưng cũng dễ du nhập các tệ nạn xã hội.
Khí hậu Hà Nội có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Do mùa hạ và mùa đông kéo dài và gắn với gió mùa nên đặc trưng nổi bật của Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa chủ yếu: mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng gắn với gió mùa đông nam và trùng với mùa mưa, mùa lạnh gắn với gió mùa đông bắc nên khô lạnh vào đầu mùa và cuối mùa có mưa phùn ẩm ướt. Mạng lưới sông ngòi ở Hà Nội khá dày đặc với hai hệ thống chính: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình.
Bên cạnh đó Thành phố có rất nhiều hồ, nổi tiếng nhất là Hồ Tây và Hồ Hoàn Kiếm. Ba phần tư diện tích tự nhiên là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu những con sông khác. Địa hình Hà Nội thấp dần 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5m đến 20m so với mực nước biển. Diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
Các điều kiện trên rất thuận lợi cho Thành phố phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng đa canh, hình thành các vùng chuyên canh rau đậu, cây ăn quả, hoa và cây cảnh phục vụ cho khu vực nội thành và các địa phương khác. Một số vùng chuyên canh có quy mô lớn và nổi tiếng như cam Canh, bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh, hoa Nhật Tân và Tây Tựu, rau sạch Vân Nội và Lĩnh Nam. Trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, một phần rất lớn diện tích đất đai sản xuất nông nghiệp bị giảm xuống nhanh do phải chuyển sang sử dụng cho những mục đích khác. Điều này đòi hỏi chương trình việc làm và giảm nghèo của Thành phố phải cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, hướng nông dân vào việc sử dụng đất theo chiều sâu, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người nghèo ngoài lĩnh vực nông nghiệp.
*Địa hành chính Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1902, Hà Nội trở thành Thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại.
Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là Thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay. Ngày 21-12-1978, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng hai huyện của tỉnh Vĩnh Phú là Mê Linh, Sóc Sơn. Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Tính đến trước 31-7-2008 Hà Nội có diện tích 921 km2, dân số hơn 3.300 người, gồm 9 quận.
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8-2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội cùng với Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Hà Nội đã được UNESCO trao danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" vào ngày 17-6-1999. Ngày 4-10-2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tặng thưởng thành phố Hà Nội danh hiệu "Thủ đô anh hùng" [92, 19-4-2014].
Với tuổi đời hàng ngàn năm văn hiến, Hà Nội chính là thủ đô lâu đời nhất trong 11 thủ đô của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Hà Nội đã trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính. Sự thay đổi này gây không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa sau thời kỳ bao cấp, từ cuối thập niên 1990, sự phát triển về kinh tế dẫn đến các khu vực ngoại ô Hà Nội nhanh chóng được đô thị hóa.
Những cao ốc mọc lên ở khu vực nội ô và các trung tâm công nghiệp cũng được xây dựng ở những huyện ngoại thành. Sự phát triển cũng kéo theo những hệ lụy. Quá trình nhập cư của một bộ phận dân cư từ nơi khác đến làm cho tính chất dân cư của Thành phố ngày càng đa dạng và phức tạp hơn, nhiều vấn đề cấp thiết được đặt ra như: xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tệ nạn xã hội…đòi hỏi thành phố phải có những chủ trương, biện pháp cơ bản để giải quyết kịp thời góp phần tạo nên sự phát triển ổn định. * Về kinh tế Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất lâu trong lịch sử.
Tên những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hàng Than. đã minh chứng cho điều này. Gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọng thứ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hai trong nền kinh tế Việt Nam. Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000 là 10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam [89, 19-4-2014]. Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có những thay đổi về cơ cấu kinh tế. Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thủy sản từ 9% giảm xuống còn 3,8%.
Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2%. Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà. cũng dần phục hồi và phát triển [89, 19-4-2014] Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.
Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội [89, 19-4-2014]. Sự phát triển kinh tế chính là nền tảng góp phần giải quyết việc làm cho người lao động cũng như xóa đói giảm nghèo. Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế.
Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khăn: Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư còn thấp; Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn; Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế không cao và Thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư. * Dân số và lao động Từ rất lâu, Thăng Long – Hà Nội đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ. Vào thế kỷ 15, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán. Nhưng khi nhận thấy họ chính là lực lượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại.
Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có cả những cư dân ngoại quốc, phần lớn là người Hoa. Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, rất nhiều những người Hoa đã ở lại sinh sống thành phố này. Trải qua các triều đại Lý,Trần, Lê, vẫn có những người Hoa tới xin phép cư ngụ lại Thăng Long. Những thay đổi về dân cư vẫn diễn ra liên tục và kéo dài cho tới ngày nay.
Đây một mặt là sự hội tụ nhân tài về Thủ đô, mặt khác là lý do khiến tăng dân số cơ học luôn ở mức cao, nảy sinh nhiều vấn đề về lao động và việc làm, đói nghèo, tệ nạn xã hội. Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây. Vào thời điểm năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km². Đến năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.