PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lịch sử dân tộc ta gắn liền với các cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc. Trong các cuộc đấu tranh này nhiều ngƣời đã không quản hy sinh, hiến dâng cả đời mình cho đất nƣớc. Họ là những ngƣời có công lao trong công cuộc giành độc lập và bảo vệ đất nƣớc, đƣợc nhân dân, Tổ quốc đời đời ghi nhớ và biết ơn.
Hiện nay, số lƣợng ngƣời có công là rất lớn. Theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội, tính đến cuối năm 2014 cả nƣớc có trên 8,8 triệu đối tƣợng ngƣời có công (chiếm gần 10% dân số) đƣợc hƣởng trợ cấp một lần và hàng tháng. Mỗi năm, Nhà nƣớc đã dành gần 26.000 tỷ đồng để thực hiện các chế độ ƣu đãi cho ngƣời có công với cách mạng. Trên thực tế, đời sống của ngƣời có công và thân nhân của họ nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn bởi khả năng tham gia vào thị trƣờng lao động của “nhóm ngƣời” này không cao.
Điều này bắt nguồn từ những tổn thƣơng về tinh thần và thể chất mà những cá nhân này đã đóng góp trong quá trình bảo vệ Tổ quốc. Chính vì thế, thực hiện các hoạt động nhằm bảo đảm chất lƣợng cuộc sống đối với nhóm đối tƣợng này là trách nhiệm của Nhà nƣớc và xã hội. Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có nhiều chính sách ƣu đãi cho ngƣời có công, trong đó tập trung vào một số chế độ nhƣ: Trợ cấp, phụ cấp hàng tháng; trợ cấp một lần; ƣu đãi về chăm sóc sức khỏe, giáo dục-đào tạo, dạy nghề, cải thiện nhà ở, tạo việc làm, miễn, giảm thuế, vay vốn, thuê đất để phát triển sản xuất kinh doanh. Để thực hiện tốt các chính sách ƣu đãi ngƣời có công, chuyển tải Pháp lệnh vào đời sống xã hội, hàng loạt văn bản quy phạm ra đời, từng bƣớc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn thiện hệ thống pháp luật ƣu đãi xã hội, nhƣ: Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2007/NĐ-CP, Nghị định số 105/2008/NĐ-CP, Nghị định số 89/2008/NĐ-CP, Nghị định số 38/2009/NĐ-CP, Nghị định số 35/2010/NĐ-CP, Nghị định số 20/2015/NĐ- CP… cùng nhiều thông tƣ của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội và các thông tƣ liên tịch khác.
Nhìn chung, chế độ ƣu đãi ngƣời có công đã đƣợc các địa phƣơng trong cả nƣớc xây dựng và thực hiện tƣơng đối toàn diện. Trên thực tế, việc triển khai tại một số địa phƣơng cho thấy, có những địa phƣơng đã chủ động làm tốt công tác phân bổ nguồn tài chính hợp lý cho các hoạt động cải thiện đời sống ngƣời có công bên cạnh trợ cấp, phụ cấp hằng tháng đƣợc chi từ ngân sách Nhà nƣớc. Các địa phƣơng đã tích cực tuyên truyền phổ biến các chế độ, chính sách của Nhà nƣớc và kết quả thực hiện chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công trên cả nƣớc. Đồng thời các địa phƣơng cũng chủ động tiếp nhận các thông tin phản ánh của ngƣời dân về những trƣờng hợp hƣởng sai chế độ, hƣởng chƣa đầy đủ, nhiều đối tƣợng chƣa đƣợc hƣởng đã đƣợc địa phƣơng hƣớng dẫn lập hồ sơ để giải quyết.
Hà Nội là một trong những thành phố thực hiện khá tốt về chính sách ƣu đãi cho ngƣời có công. Các kế hoạch, chƣơng trình hành động cụ thể và các giải pháp trong việc thực hiện chế độ trợ cấp, ƣu đãi cho ngƣời có công đều đƣợc thực hiện đồng bộ, thể hiện sự chăm lo đời sống ngƣời có công của lãnh đạo thành phố, chính quyền địa phƣơng, và cộng đồng xã hội. Cụ thể, Thành phố chỉ đạo các quận, huyện làm tốt chính sách, chƣơng trình hỗ trợ ngƣời có công với cách mạng; cấp học bổng cho con em các gia đình thƣơng binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách để các cháu có điều kiện học tập tốt và giúp đỡ, tạo việc làm cho các cháu khi ra trƣờng. Các địa phƣơng đã hỗ trợ tài chính cho ngƣời có công làm kinh tế thông qua việc cho vay 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vốn, các doanh nghiệp tích cực hỗ trợ và hƣớng dẫn về mô hình cũng nhƣ các phƣơng pháp, kỹ thuật, kinh nghiệm làm kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện chế độ chính sách đối với ngƣời có công với cách mạng trong những năm qua trên địa bàn Thành phố cũng còn khó khăn và phức tạp nhƣ: Quy định hƣớng dẫn về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, trách nhiệm xác nhận ngƣời có công chƣa đồng bộ, thiếu hợp lý, tạo “kẽ hở” dẫn đến tiêu cực khai man, giả mạo giấy tờ để đƣợc xác nhận là ngƣời có công; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định…. Những hạn chế, vƣớng mắc đó cần đƣợc phân tích, khắc phục, nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng. Quận Hoàn Kiếm là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế và văn hóa của Thủ đô Hà Nội. Hiện nay, số lƣợng ngƣời có công trên địa bàn quận là rất lớn, với diện bao phủ toàn bộ đối tƣợng thụ hƣởng chính sách theo Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công.
Mặt khác ở lĩnh vực này mới chỉ có các đề tài nghiên cứu ở địa bàn tỉnh khác hoặc quận, huyện khác trên địa bàn thành phố. Hiện tại quận Hoàn Kiếm chƣa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và đòi hỏi của thực tiễn, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách ưu đãi cho người có công trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ƣu đãi xã hội đối với ngƣời có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn, trở thành một nguyên tắc hiến định ghi nhận ở điều 67 - Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng đã khẳng định: “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nƣớc chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho những ngƣời và gia đình có công với cách mạng. Bảo đảm đời sống ngƣời có công 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không chỉ góp phần ổn định chính trị - xã hội mà còn tạo điều kiện cho tăng trƣởng kinh tế”. Thể chế hoá đƣờng lối của Đảng, các qui định của Hiến pháp, pháp luật của Nhà nƣớc, năm 1994, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Ƣu đãi ngƣời hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thƣơng binh, bệnh binh, ngƣời hoạt động kháng chiến, ngƣời có công giúp đỡ cách mạng. Sau 10 năm thực hiện, ngày 29/6/2005, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11, sửa đổi bổ sung Pháp lệnh cũ (năm 1994) về ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng.
Để thực hiện tốt các chính sách ƣu đãi ngƣời có công, chuyển tải Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công vào đời sống xã hội, hàng loạt văn bản quy phạm ra đời, từng bƣớc hoàn thiện hệ thống pháp luật ƣu đãi xã hội, nhƣ: Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2007/NĐ-CP, Nghị định số 105/2008/NĐ-CP, Nghị định số 89/2008/NĐ-CP, Nghị định số 38/2009/NĐ-CP, Nghị định số 35/2010/NĐ-CP, Nghị định số 20/2015/NĐ- CP… cùng nhiều thông tƣ của Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội và các thông tƣ liên tịch khác. Tiếp cận dƣới góc độ xã hội học, cuốn sách Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90: Tài liệu tham khảo cho môn học phúc lợi xã hội, chương trình đào tạo cử nhân và cao học xã hội học của tác giả Bùi Thế Cƣờng(2002) đã luận giải về các cách tiếp cận về chính sách xã hội. Tác giả khẳng định, không một trƣờng phái nào một mình nó có thể giải thích đầy đủ mọi vấn đề mà thực tiễn chính sách xã hội đặt ra, do đó, cách thức thích hợp và phổ biến là tiến hành những công trình có tính kết hợp để phân tích thực tế chính sách xã hội một cách đa biến, đa chiều. Nghiên cứu mô hình thực hiện chính sách xã hội của các nƣớc trƣớc những đòi hỏi mới của tình hình hiện nay, công trình của tác giả Louis Charles 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Viossat và Bruno Palier (2003) chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hóa,các tác giả đã giới thiệu những quan điểm và chính sách của hệ thống bảo đảm xã hội trƣớc xu thế toàn cầu hóa; cơ sở lý luận xây dựng hệ thống bảo đảm xã hội; giới thiệu các mô hình chính sách xã hội ở Châu Âu và thế giới.
Công trình gợi mở nhiều vấn đề để thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội ở Việt Nam. Tác giả Mai Ngọc Cƣờng (2013), Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay, đã giới thiệu một cách khái quát về đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc và quá trình thực hiện chính sách xã hội, cũng nhƣ hệ thống các chính sách xã hội phổ biến ở các nƣớc và những nội dung có khả năng ứng dụng ở Việt Nam. Đồng thời, các tác giả đã đề cập đến thực trạng, thành tựu, hạn chế của chính sách xã hội ở Việt Nam dƣới nhiều lĩnh vực nhƣ: Chính sách giảm nghèo; chính sách việc làm…Trên cơ sở đó, các tác giả đƣa ra những giải pháp và một số khuyến nghị về xây dựng hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam trong những năm tới. Ngoài ra, một số công trình khoa học nhƣ của tác giả Mai Ngọc Anh(2012), Chính sách xã hội đối với người có công ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị; tác giả Bùi Thu Hiền (2013), Chính sách đối với người có công - Thực trạng và một số kiến nghị, chủ yếu đề cập đến quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, những giải pháp nhằm thực hiện chính sách trợ giúp cho ngƣời có công, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các chính sách và thực trạng thực thi các chính sách, những vƣớng mắc đã và đang cản trở việc thụ hƣởng của những ngƣời có công.
Đi đôi với đó là những nghiên cứu, những bài viết về công tác chăm sóc những ngƣời có công với cách mạng đã đƣợc những nhà nghiên cứu và độc giả hết sức quan tâm, với một sự biết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những ngƣời thƣơng binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng, lão thành cách 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.