Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TY GIÁ HOI ĐOÁI 1.1, TY GIA HOI ĐOÁI 1. Khai niém Hau hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tién riêng của mình. Do đó, khi tiến hành bất kỳ giao dịch, trao đổi nào cũng đều phải thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ từ đồng tién nước này sang đồng tiền nước khác. Mối tương quan tỷ lệ để thực hiện việc chuyển đổi đó được quan niệm là tỷ giá hối đoái.
TỶ giá hối đoái là giá cd của một đồng tiền nước này được biểu hiện thông qua đồng tiền của nước khác Ví dự: JUSD = 14.300 VND Ký hiệu ty giá hối đoái là E; ta có E vwpzsp = 14.300 Xét về hình thức, tỷ giá hốt đoái chỉ đơn thuần là tỷ lệ chuyển đổi từ một đồng tién nước nay sang đồng tiền nước khác. Về nội dung tỷ giá hối doái là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hóa, dich vụ, quan hệ tiền tệ, đầu tư, vay mượn. giữa các quốc gia. Nghĩa là tỷ giá hốt đoát là một phạm trù vốn có của kinh tế thị trường và có mội lịch sử phát triển lâu đài.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nên kinh tế thế giới hoạt động theo chế độ ban vị vàng, vàng là phương tiện thanh toán quốc tế chung và duy nhất được đùng để thanh toán mọi hoạt động trao đổi quốc tế. hôi đoái là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng của hai nước với nhau gọi là ngàng giá vàng. Vậy trong chế độ bản vị vàng, ngang gid vàng của tiền tệ là cơ sở hình thành ty giá hối đoái. 6 Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoàng kinh tế thế giới 1929 - 1933 ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái.
Các nước không còn có thể chuyển đổi đồng tiền nước mình ra vàng, chế độ bản vị vàng sụp đổ. Khi đó, việc so sánh hai đồng tiên với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua cửa hai tiền tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ. Từ năm 1944, hệ thống tién tệ quốc tế Bretton- woods được triển ớ khai, thực thi chế độ tỷ giá hốt đoái cố định và chấp nhận đô la Mỹ, bang Anh bên cạnh vàng làm phương tiện thanh toán và dự trữ quốc tế. Kể từ khi hệ thống tiên tệ quốc tế Bretton- woods sụp đổ (1971) đến nay, hầu hết các quốc gia tự lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hay lai tạp giữa thả nổi và cố định.
Phương pháp yết tỷ giá Có hai phương pháp biểu thị tỷ giá hốt đoái: Phương pháp thứ nhất: phương pháp biểu thị tỷ giá hối đoái lấy cố định một đơn vị tién tệ nước ngoài để so sánh với lượng tiền trong nước. Ví dự: Tại Việt Nam công bố: | USD = 14.300 Theo phương pháp này thì giá cả ngoại tệ được biểu hiện trực tiếp ở đồng nội tệ còn giá cA đồng nội tệ biểu hiện gián tiếp qua ngoại tệ. Đại đa số các nước trên thế giới sử đụng phương pháp này. Theo cách biểu thi tỷ giá hốt đoái này thì tỷ giá hối đoái sẽ tỷ lệ nghịch với giá trị đồng nội tệ.
Phương pháp thứ hai: Một nước lấy cố định một đơn vị tiền tệ nước mình để so sánh với tiền tệ nước ngoài. Ví dụ: Tại Anh, Ngân hàng trung ương Anh công bố: IGBP=4.AGLISDĐ, IGBPEZATT, [GBP-=l5SWIE Theo cách này, giá của đồng nội tệ được biểu hiện trực tiếp ra ngoại tệ. Những nước công bố tỷ gid theo phương pháp này chủ yếu là theo tập quan hoặc là đồng tiền của ho đã có những thời kỳ lịch sử lâu dài, và dược sử đụng nhiều trong thương mại cũng như các hoạt động trao đổi quốc tế khác. Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc tế thì trên thế giới chỉ có hai tiền tệ quốc gia (USD, GBP) và hai tiền tệ quốc tế (SDR, EURO) là dùng cách yết giá này.
Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái Từ khái niệm về tỷ giá hối đoái cho thấy tỷ giá hối đoái là một loại gid cả trong nền kinh tế thị trường, vì vậy theo quy luật kinh tế thị trường nó phải được hình thành bởi quan hệ cưng cầu về ngoai tệ, Cung cầu ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén đến sự biến động cửa ly giá hối đoá! 1.1, Xác định tỷ giá hối đoái dựa vào cung cầu ngoại tệ + Cũng ngoại tệ phụ thuộc vào nhu cầu từ phía người nước ngoài về hàng hóa, địch vụ và các tài sản của nước sở tại, Các nhân tố tác động, dén cung ngoại tệ là: Xuất khẩu hàng hóa và dich vu; thu, chuyển tiền mét chiều; nước ngoài đầu tư vào; đi vay nước ngoài; thu hồi vốn cho vay (Những nguồn thu trong cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia). Nếu cán cân thanh toán đư thừa có thể dẫn đến cưng ngoại tệ lớn hơn cầu. Mức cũng ngoại tệ vào một thời điểm nhất định luôn được xác định tương ứng với một mức tỷ giá cụ thể. Quan hệ giữa tỷ giá hối doái và cung ngoạt tệ theo chiều thuận.
Biểu điễn đường cung ngoại tệ (S) trên đồ thị (1): + Cầu ngoại tệ: Cấu ngoạt tệ phụ thuộc vào như cầu của những người trong nước về hàng hóa, dich vụ và tat sẵn thế giới bên ngoài. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu ngoại tệ: Nhập khẩu hàng hóa, dịch vu chỉ trả lãi suất, lợi nhuận, chi chuyển tiền một chiều, đầu tự ra nước ngoài, cho vay. Ngoài ra còn có những nhân tô khác ảnh hưởng đến cầu ngoại tệ như: Thu nhập thực tế (Hay mức độ tang GNP thực tế) tăng lên lầm tăng cầu về hàng hóa và dich vụ nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên. Hoặc những nhu cầu ngoại hối bất thường tăng lên do thiên tai, chiến tranh, do nạn buôn lậu hàng nhập khẩu gây ra.
Mức cầu ngoại tệ vào một thời điểm nhất định luôn được xác định tương ứng ở một mức tỷ giá cụ thể. Đường cầu ngoại tệ (D) trên đồ thi (J) biểu điễn mối quan hệ giữa cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. E + Quan hệ giữa cung - câu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái: Về lý thuyết, cũng như mọi thị trường khác, sự thay đổi giữa tổng cung và tổng cầu về ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái. Ngược lại, sự thay đổi của ty gid hối đoái cũng lầm thay đổi cung và cầu ngoại tệ.
- Điểm giao nhau (A) của đường cung và đường cầu ngoại tệ xác định mức tỷ giá hối đoái cân bằng. Tại đây mức cung ngoại tệ và mức cầu ngoai Lệ bằng nhau. - Cách xác định tỷ giá dựa vào quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường là mô hình đơn giản xác định tỷ giá giao ngay. Mội chế độ ty gid mà ở đó tỷ giá hoàn toàn được xác định bởi quy luật cung - cầu trên thị trường ngoại hối, không hề có bất kỳ một sự can thiệp nào của Chính phủ đó chính là chế độ tỷ giá thả nổi.
Trong chế độ tỷ giá thả nổi, thông qua cơ chế tự điều tiết tỷ giá sẽ đảm bảo sự cân bằng như sau: Nếu tỷ giá ở mức E, lớn hơn E*, mức cầu ngoại tệ sẽ ở mức (q,`); mức cung ngoại tệ ở mức (q,); đây là tình trạng dư cưng ngoại tệ. Cạnh tranh giữa những người cung ứng sẽ kéo tỷ giá hối dodt về vị trí cân bằng (F*). Ngược lại, nếu tỷ giá ở mức E nhỏ hơn E*, cơ chế tự điều tiết sẽ kéo i, trở về E*. Xu hướng vận động của thị trường ngoại hối là luôn trở về vi trí cân bằng E*.
Trên thực tế, cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cung. cầu về ngoại tệ trên thị trường, đo đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái. Bội thu cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá giảm và bội chi cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá tăng. Với cơ chế tỷ giá "thả nổi", tỷ giá luôn biến động từ ngầy này sang ngay khác, thậm chí biến động theo giờ nghĩa là trong ngắn hạn tỷ giá hối dodi rất linh hoạt.
Song nhìn về dai hạn thì tỷ giá hối đoái tuy có biến đổi nhưng có tính ổn định hơn. Sở di như vậy là do các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá trong ngắn han và trong đài hạn là khác nhau. Do vậy cần nghiên cứu cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn và dài hạn. Cơ chế hình thành tỷ giá hốt dodi dai hạn Những nhân tố tác động làm thay đổi mức tỷ giá cân bằng ở phần trên cũng chính là những nhân tố tác động đến ty giá hối đoái đài hạn.
Đó là những nhân tố làm dịch chuyển đường cung và đường cầu ngoại tệ a) Mô hình vác định ty giá hội đoái theo ngang giá sức mua + Trong quan hệ giữa hai quốc gia, nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tién của nước đó có sức mua thấp hon. Nghĩa là mức chênh lệch lạm phát của hai nước ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá + oe ` so > „ Ñ » _ 2 “2. ca hối doái. Đầu thế ky 19, các nhà kinh tế học cổ điển như David Ricado đã 10 dưa ra ý tưởng vé ngang gia sức mua giữa các quốc gia trong thương mai quốc tế.
Năm 1920, nhà kinh tế học Gustav Cassel người Thụy Điển đã áp dụng thuyết ngang giá sức mua để nghiên cứu tỷ giá hối đoái. + Thuyết PPP là sự phát triển của quy luật một giá. Theo quy luật một giá, khi thị trường là cạnh tranh hoàn hảo và bỏ qua hàng rào mậu dịch, các chỉ phí vận chuyển, bảo hiểm. thì các hàng hóa giống hệt nhau trên các thi trường khác nhau sẽ có giá như nhau khi cùng quy về một đồng tiền ma không hề phụ thuộc vào vấn dé nước nào đã sản xuất ra nó.
E=-— E: Ty giá hối đoái Pi: Giá hàng hóa i tính bằng nội tệ Pi*: Giá hàng hóa i tính bằng ngoại tệ Trên cơ sở quy luật một giá, thuyết ngang giá sức mua (PPP) cho ràng: Tỷ giá bất kỳ giữa 2 đồng tiền của 2 nước chính hằng tỷ số mức giá của 2 nước đó ở cùng thời điểm. Gia thiết của mô hình xác định tỷ giá theo ngang giá sức mua cfing giống như giả thiết của quy luật một giá.