Luận văn điều chỉnh chính sách thương mại Trung Quốc trước sau WTO

Luận văn thạc sĩ phân tích điều chỉnh chính sách thương mại Trung Quốc giai đoạn trước và sau gia nhập WTO năm 2001, kinh nghiệm cho Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Đối ngoại

2008

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách Trung Quốc điều chỉnh chính sách thương mại trước WTO

Trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chính sách thương mại Trung Quốc mang đậm dấu ấn của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Từ năm 1978, Trung Quốc khởi xướng cải cách mở cửa, từng bước chuyển đổi sang thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đến giữa thập niên 1990, hệ thống thương mại vẫn còn nhiều rào cản phi thị trường, bao gồm hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu và sự can thiệp sâu của nhà nước. Năm 1986, Trung Quốc nộp đơn xin gia nhập GATT (tiền thân của WTO), mở đầu cho quá trình điều chỉnh chính sách thương mại dài hạn. Giai đoạn này chứng kiến việc cắt giảm thuế quan từ mức trung bình 43% (1992) xuống còn khoảng 17% (2001), đồng thời bãi bỏ nhiều biện pháp phi thuế quan. Theo luận văn của Trần Thị Hoàng Ngân (2008), chính sách thương mại trước WTO phản ánh nỗ lực hội nhập kinh tế toàn cầu, song vẫn mang tính dè dặt và thử nghiệm. Các cải cách tập trung vào tự do hóa thương mại có kiểm soát, ưu tiên bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ và duy trì vai trò chi phối của doanh nghiệp nhà nước. Điều này cho thấy Trung Quốc tiếp cận WTO không chỉ như một cam kết pháp lý, mà còn là công cụ để thúc đẩy cải cách nội địa.

1.1. Bối cảnh kinh tế chính trị dẫn đến cải cách thương mại

Sự sụp đổ của Chiến tranh Lạnh, làn sóng toàn cầu hóa kinh tế và các khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đã tạo áp lực buộc Trung Quốc phải điều chỉnh mô hình phát triển. Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định rõ mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò then chốt. Việc cải cách không chỉ nhằm thu hút FDI mà còn để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

1.2. Các biện pháp thương mại chủ yếu trước năm 2001

Trung Quốc sử dụng kết hợp thuế quan, hạn ngạch, và giấy phép xuất nhập khẩu để kiểm soát luồng hàng hóa. Tuy nhiên, từ 1992–2001, nước này đã cắt giảm hơn 7.000 dòng thuế và đơn giản hóa thủ tục hải quan. Đồng thời, các khu chế xuấtkhu thương mại tự do được mở rộng, tạo “vùng đệm” thử nghiệm cho tự do hóa thương mại trước khi áp dụng toàn quốc.

II. Thay đổi chính sách thương mại Trung Quốc sau khi gia nhập WTO

Kể từ khi chính thức trở thành thành viên WTO vào tháng 12/2001, chính sách thương mại Trung Quốc bước sang giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện. Trung Quốc cam kết thực hiện hàng loạt nghĩa vụ WTO, bao gồm cắt giảm thuế quan trung bình xuống còn 9,8%, mở cửa thị trường dịch vụ, minh bạch hóa luật pháp và bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu. Theo số liệu từ luận văn của Trần Thị Hoàng Ngân (2008), chỉ trong 5 năm sau gia nhập, kim ngạch thương mại của Trung Quốc tăng từ 40% lên 80% GDP, vươn lên vị trí nước có giá trị thương mại lớn thứ 3 thế giới. Sự điều chỉnh không chỉ dừng ở kỹ thuật thương mại, mà còn kéo theo cải cách sâu rộng trong hệ thống pháp lý, quản trị doanh nghiệp nhà nướccơ chế giám sát hành chính. Đặc biệt, Trung Quốc đã ban hành hơn 2.000 văn bản pháp luật mới để phù hợp với các nguyên tắc MFN (Tối huệ quốc)quốc gia đãi ngộ của WTO. Thành công này xuất phát từ chiến lược “dùng WTO làm đòn bẩy cải cách nội địa”, biến các cam kết quốc tế thành động lực cải tổ thể chế kinh tế.

2.1. Cam kết WTO và quá trình pháp điển hóa

Trung Quốc đã sửa đổi Luật Ngoại thương, Luật Đầu tư nước ngoài và ban hành Luật Chống bán phá giá để đáp ứng tiêu chuẩn WTO. Việc minh bạch hóa chính sách được thực hiện qua hệ thống công báo chính thức và cơ chế phản hồi ý kiến doanh nghiệp. Đây là bước ngoặt trong việc xây dựng môi trường kinh doanh dựa trên pháp luật.

2.2. Tác động đến cơ cấu xuất nhập khẩu

Sau WTO, xuất khẩu công nghệ và hàng chế tạo tăng mạnh, trong khi nhập khẩu nguyên liệu và linh kiện phục vụ gia công cũng mở rộng. Trung Quốc chuyển từ mô hình thay thế nhập khẩu sang hội nhập sản xuất toàn cầu, trở thành “công xưởng thế giới”. Tỷ trọng hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch vượt 90% vào năm 2006.

III. Phương pháp Trung Quốc hội nhập thương mại toàn cầu hiệu quả

Thành công của chính sách thương mại Trung Quốc sau WTO không đến từ may mắn, mà là kết quả của chiến lược hội nhập có chọn lọc và có kiểm soát. Trung Quốc áp dụng nguyên tắc “mở cửa có điều kiện”: mở từng ngành, từng khu vực theo lộ trình, đồng thời duy trì các công cụ điều tiết vĩ mô. Một trong những phương pháp then chốt là tận dụng thời gian chuyển tiếp (transition period) để doanh nghiệp nội địa thích nghi. Ví dụ, ngành dệt may được bảo hộ thêm 5 năm sau khi gia nhập. Bên cạnh đó, Trung Quốc đầu tư mạnh vào hạ tầng logistics, đào tạo nguồn nhân lực thương mạihệ thống thông tin thị trường. Theo Anderson & Lanchovichina (2004), Trung Quốc đã “biến các ràng buộc WTO thành cơ hội cải cách thể chế”. Ngoài ra, chính phủ phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Thương mại, Ủy ban Cải cách và Phát triểnNgân hàng Trung ương để đảm bảo tính nhất quán trong chính sách. Điều này giúp Trung Quốc vừa tuân thủ quy tắc quốc tế, vừa giữ được chủ quyền chính sách kinh tế.

3.1. Chiến lược mở cửa ngành có lộ trình

Các ngành nhạy cảm như tài chính, bảo hiểm, phân phối được mở cửa theo lịch trình cam kết WTO, cho phép doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực. Ví dụ, ngân hàng nước ngoài chỉ được phép hoạt động toàn quốc sau 5 năm gia nhập, tạo “lá chắn” cho hệ thống tài chính non trẻ.

3.2. Vai trò của cải cách thể chế đi kèm

Thương mại không thể phát triển nếu thiếu cải cách thể chế. Trung Quốc cải tổ doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy cổ phần hóa, và xây dựng khung khổ pháp lý minh bạch. Đây là yếu tố then chốt giúp nước này tận dụng tối đa cơ hội từ WTO.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ kinh nghiệm Trung Quốc cho Việt Nam

Kinh nghiệm điều chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc mang lại nhiều bài học quý giá cho Việt Nam sau khi gia nhập WTO (11/2006). Trước hết, cần nhận thức rằng hội nhập thương mại không chỉ là mở cửa thị trường, mà là công cụ cải cách thể chế. Trung Quốc thành công nhờ kết hợp cam kết quốc tế với cải cách nội địa đồng bộ. Việt Nam có thể học hỏi cách xây dựng lộ trình điều chỉnh chính sách linh hoạt, ưu tiên bảo vệ ngành yếu thế trong thời gian chuyển tiếp. Ngoài ra, việc minh bạch hóa pháp luật, đào tạo cán bộ thương mạihỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận thị trường quốc tế là những yếu tố then chốt. Theo luận văn của Trần Thị Hoàng Ngân, Việt Nam cần tránh “mở cửa ồ ạt” mà nên hội nhập có chọn lọc, giống như Trung Quốc đã làm. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá tác động của các cam kết WTO để kịp thời điều chỉnh chính sách. Việc học hỏi kinh nghiệm Trung Quốc không có nghĩa là sao chép, mà là ứng dụng linh hoạt trong bối cảnh thể chế và quy mô kinh tế khác biệt.

4.1. Bài học về lộ trình hội nhập có kiểm soát

Việt Nam nên áp dụng lộ trình mở cửa ngành theo mức độ sẵn sàng, đặc biệt với lĩnh vực dịch vụ và nông nghiệp. Cần có cơ chế bảo hộ tạm thời cho doanh nghiệp nội địa, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh thay vì chỉ dựa vào bảo hộ lâu dài.

4.2. Tăng cường năng lực thể chế và pháp lý

Giống Trung Quốc, Việt Nam cần cập nhật hệ thống luật pháp cho phù hợp với WTO, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và thực thi hiệu quả. Việc thành lập cơ quan chuyên trách về giải quyết tranh chấp thương mại cũng là bước đi cần thiết.

V. Thách thức và rủi ro trong chính sách thương mại Trung Quốc sau WTO

Dù đạt nhiều thành tựu, chính sách thương mại Trung Quốc sau WTO cũng đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là mất cân đối thương mại với Mỹ và EU, dẫn đến hàng loạt vụ kiện chống bán phá giá. Ngoài ra, sự phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu khiến nền kinh tế dễ tổn thương trước biến động kinh tế toàn cầu, như khủng hoảng 2008. Bên trong, bất bình đẳng vùng miền gia tăng do các tỉnh duyên hải hưởng lợi nhiều hơn từ thương mại, trong khi nội địa bị bỏ lại. Đồng thời, áp lực cải cách doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được giải quyết triệt để, gây méo mó thị trường. Theo Supachai Panitchpakdi (2002), Trung Quốc cần chuyển từ tăng trưởng dựa trên xuất khẩu sang tiêu dùng nội địa để đảm bảo phát triển bền vững. Việc duy trì trợ cấp ngầmkiểm soát tỷ giá cũng khiến Trung Quốc bị chỉ trích vi phạm tinh thần WTO. Những rủi ro này cho thấy, ngay cả một nền kinh tế thành công như Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi hệ lụy nếu hội nhập thiếu cân bằng.

5.1. Rủi ro từ phụ thuộc xuất khẩu

Tỷ lệ thương mại/GDP lên tới 80% vào năm 2006 khiến Trung Quốc dễ bị ảnh hưởng bởi suy thoái toàn cầu. Điều này thúc đẩy chính phủ chuyển hướng sang kích cầu nội địa từ cuối thập niên 2000.

5.2. Tranh chấp thương mại và cáo buộc phi thị trường

Nhiều nước cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ, trợ cấp doanh nghiệp nhà nướcvi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Những tranh chấp này làm xói mòn uy tín và gây cản trở trong các thỏa thuận thương mại tự do mới.

VI. Tương lai chính sách thương mại Trung Quốc trong bối cảnh đa phương suy yếu

Trong bối cảnh hệ thống thương mại đa phương WTO suy yếu và xung đột thương mại Mỹ - Trung leo thang, chính sách thương mại Trung Quốc đang chuyển hướng sang song phương và khu vực. Trung Quốc tích cực tham gia RCEP, thúc đẩy sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) và đàm phán CPTPP. Đồng thời, nước này đẩy mạnh số hóa thương mại, thương mại điện tử xuyên biên giớichuỗi cung ứng xanh. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là cân bằng giữa hội nhập quốc tế và an ninh kinh tế quốc gia. Trung Quốc đang xây dựng “vòng tuần hoàn kép”, trong đó nội địa là chủ đạo, quốc tế là bổ trợ. Điều này cho thấy chính sách thương mại Trung Quốc không còn đơn thuần tuân theo WTO, mà đang định hình trật tự kinh tế mới. Dù vậy, các nguyên tắc cốt lõi như minh bạch, dự báo chính sáchbảo vệ quyền doanh nghiệp vẫn là nền tảng để duy trì uy tín thương mại toàn cầu.

6.1. Chuyển dịch sang các hiệp định thương mại thế hệ mới

Trung Quốc đang đàm phán tham gia CPTPP – hiệp định có tiêu chuẩn cao hơn WTO – nhằm nâng cấp thể chế và tiếp cận thị trường chất lượng cao. Đây là bước đi chiến lược để duy trì vị thế cường quốc thương mại.

6.2. Chiến lược vòng tuần hoàn kép và tác động đến thương mại

Mô hình “tuần hoàn kép” đặt tiêu dùng nội địa làm trụ cột, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu. Tuy nhiên, thương mại quốc tế vẫn đóng vai trò hỗ trợ, đặc biệt qua sáng kiến BRIhợp tác kỹ thuật số với các nước đang phát triển.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ điều chỉnh chính sách thương mại của trung quốc trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới wto

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vẫn để cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO. "Trọng tâm của phần này là hệ thông hỏa một số vẫn để liên quan đến những quy định. về thương mại và chính sách thương mại trang khuôn khổ của WTO Chương 7: Điều chỉnh chính sich throng mại của Trung Quốc để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chương này lập trung nghiên cửu nữmg điều chỉnh trong hệ thông các chính sách thương mại của Trung Quốc từ khi Trmg Quốc nếp don gia nhập WTO (1986) đến khi Trưng Quốc được kết nạp vào WTO (tháng 11/2001) Chương 3: Thiểu chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện các cam kết với WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam. Trong phân này, 4 đối với bản thân Tnmg Quốc trên gác lĩnh vực: cải cách chỉnh sách kinh tổ vĩ mô, gợi câu ngành kinh tế chủ chối, khu vực doanh nghiện, các vấn để xã lí oàn Thiện hệ thông luật pháp và tác động đến các nền kinh tế trên thể giới.

Như vậy, theo su tim hiểu của tác giá, hảu nhự chưa có công trình nào nghiên cứu riêng vẻ sự điểu chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trong quá trình từ sau khú nước này nộp đơn. gia nhập WTO cho đến nay một cách chỉ tiất, hệ thẳng. Mặt khác, sau khi Việt Nam chính thức lả thành viên thứ 150 của Tô chức Thương mại thẻ giới, việc điêu chỉnh chính sách thương mại của clmg ta sao cho phủ hợp với tình hình mới là điểu mà +hông chỉ giới nghiên cứu quan tâm. Do đó, luận văn này được viết với mục đích tim tiểu những nội đụng clủnh trong việc điểu chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và san khi gia nhập WTO và vút ra một số kinh nghiệm trong quá trình điều chỉnh chính sách thương mại mnả Việt Ma cỏ thể tham khảo.

Mục đích và nhiệm vụ nghiền cứu 3. Mục dích nghiên cứu 'Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm điểu chính chỉnh sách thương mại của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thể giới (WTO), luận văn đề xuất một số khuyên nụhị, gợi ý chỉnh sách cho Việt Nam nhầm giảm những lác động bắt lợi từ quá trình hội nhập đem lại. Nhiệm vụ nghiên cửu Thứ nhất, nghiên cửu một số nội dụng cơ bản về thường nai tong khuôn khổ WTO, Thử hai, xem xót quá trình điều chẳnh chính sách thương nhấ của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thể giới (WTO). Và, Thứ ba, trên co sé do, dua ra một số gợi ý cho Việt Nam.

4, Déi trong va phạm vi nghiên cứu. ĐI trợng nghiên cứu TNgiiên cứu sự điều chính chính sách thương mựi của Trung Quốc ước và sau khi ra nhận WTO. Phạm ví nghiên cứu ~ EÈ mội đơng: Luận văn này chỉ tập trưng nghiên cứu về quá trình điều chỉnh chỉnh sách thương nrại của Trung Quốc - PỄ thời gian: Luận văn lập trang nghiên cửu trong khoảng thời gian từ Kủ Trung. Quốc nộp den gia nhập WTO (1986) đến khi gia nhập WTO (2001); và tư khí gia nhập WTO dén nim 2007.

- VỀ không gam. Luận văn chỉ nghiên cúu về chính sách thương ruại của Trung Quốc Đại lục chứ không nghiên cứu thêm cả chính sách thương mại của Hồng Kêng, Ma Cao. Phương pháp nghiên cứu: Tuuận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và dny vật lịch sử để phân. tích quá trinh điều chỉnh chính sách thương mại của Trưng Quốc.

Tiên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, điễn giải, quy nạp được sử đụng. niềm làm nổi bật liệu quả của quá trà điều chỉnh chỉnh sách thương trại ở Thng. Quốc trước và sau khủ giá nhập WTO. Túc giả cũng sử dụng phương phấp so sánh đỗ cho biết Trung Quốc đã thành công đến đầu trong công cuộc điểu chính chỉnh sách thương mại và vị trí của quốc gia nảy trên thẻ giới.

Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp thông kê, thu thập, xứ lý tài Hêu như là một công cụ phân tích số Hệu để minh chứng cho các vẫn để nghiên cửu. Ngoài ra, lận văn cũng còn sử dung phương. pháp chuyên gia tức lã tham khảo các ở kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tễ, đặc triệt là các chuyên gia nghiện cứu về Trung Quoe 6. Dự kiến những đóng góp mới của luận van Trên cơ sở hệ thông hỏa quả trình diễu chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc trước và sau kh gia nhập XVTO, bước đầu đưa và một số gợi ý cho Việt Nam.

Nội đụng và kết cấu của đễ tài Ngoài phẩn Lời mớ đầu và Kết luân, nội dung của luận văn gém 3 Chương sau đây: Chương 1: Những vẫn để cơ bản về thương mại trong khuôn khổ WTO. "Trọng tâm của phần này là hệ thông hỏa một số vẫn để liên quan đến những quy định. về thương mại và chính sách thương mại trang khuôn khổ của WTO Chương 7: Điều chỉnh chính sich throng mại của Trung Quốc để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chương này lập trung nghiên cửu nữmg điều chỉnh trong hệ thông các chính sách thương mại của Trung Quốc từ khi Trmg Quốc nếp don gia nhập WTO (1986) đến khi Trưng Quốc được kết nạp vào WTO (tháng 11/2001) Chương 3: Thiểu chỉnh chính sách thương mại của Trung Quốc để thực hiện các cam kết với WTO và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam. Trong phân này, 9 hang Thế giới — World Bank — WB) va Quỹ Tiền lệ Quốc tễ (International Money Fund —IMP), một tổ chức chung về lĩnh vực thương rnại cũng được đổ xuất thành lập với lên g20i Té cite Thuong mai Quéc té (Intemational Trade Organization - ITO).

Hiển chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm tại La Havana (Cuba) thang 3 nam 1948. Tuy nhiên, do không được tắt cá các quốc hội của các nước phê chuẩn nèn ITO, với tư cách là một tỗ chức đã không thé tỉnh thành. Mặc đâu vậy, tỉnh thần cơ bản của Iiiển chương TTO về điển chỉnh thương mại quốc †ẻ vẫn Tôn tại thông qua sự hình thành định chế thương mại qnốc tế Liệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Từ khi ra đởi (1-1-1948 với 23 mước tham.

gia théa thuận ban đầu), GATT ding vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thông. Thương ai đa phương trong suốt gán 50 năm (đến hếi năm 1994). Các nước tham gis GATT đã tiền hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thóa ước thương mại mới. Tại vòng đảm phán thứ 8 cia GATT khai mae & Punta del Este, Urugoay Vòng đàm phán mgoay, bắt đầu năm 1986 và kết thúc vào năm 1994, cdc ban tham gia GATT da nhit trị thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTC) thay Thế cha GATT.

Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý và mở rông. Tuy là một hiệp định có vai trò bao trùm trong đời sống thương mại quốc lê, trong đỏ đề ra nhĩmg nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tẻ và những nguyên tắc đỏ vẫn tồn tại cho đến ngày nay, nhưng GATT lại chưa bao giở là một tổ chức. Sự điều hành GATT khiến người ta có cảm giác đây như là một tỗ chức. GATT điều hành các vòng đảm phán kéo đài nhiều năm, với sự than gia của hàng chục quốc gia từ khắp các châu lục.

Do tầm vóc lớn lao cúa nỏ cũng như giá trị những khỏi lượng thương mại mà nó điểu tiết, GATT có riễng một Ban Thư ký để theo dõi, giảm sát việc thục hiện LHệp định Và để điền tả hình thức tin tai nay cia GATT, có người đá gợi GATT Ja mét “định chế”. Vẻ điểm mày, WTO không giống như GATT, vì WTO thực sự là mội tổ chức, ra đời thay thể GATT, nhằm thể chế hóa GATT, biến GATT thành xnột lỗ chức thực sự và có cơ cầu tổ cluức hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Vì Thế mà các nước tham gia GATT chỉ được goi là các “bên kí kết”, còn các nước, các tên tô chức và vùng lãnh thỏ tham gia WTO thủ được gọi là “thành viên”. 7 CHƯƠNG 1: NIIGNG VAN DE CO BẢN VẺ THƯƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHÔ WTO.

Vài nét về Tổ chức Thương mại thể giới (W TO) 1. Khái quốt về WTO 1. Giới thigu vé WTO Nói một cách đơn gián, Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) là nơi đề ra những, quy định điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mê toàn thể giới. Trude tiên, WTO là một khuôn khổ để đám phán, WTO là điễn đản, nơi các quốc gia thành viên thương lượng giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ.

Bước giải quyết tranh chấp đầu tiền la thỏa thuận. WTO ra đời từ các cuộc đâm phán và tắt cả những gi tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phản. Các hoạt động nà WTO đang xúc tiên hiện nay chủ yêu xuất phát từ những cuộc đảm: phan din ra tir wim 1986 đến trăm 1994, mang lên vòng đảm phir Uruguay, vi tir những cuộc đầm phán trước đỏ rong khuôn khổ Hiệp định chung vé Thué quan vi Thương mại (GATT). Đối với những nước gặp phải những rào cản trong thương mại và mmén vuot qua ching, thi dim phán góp phần thúc đấy tự do hóa thương mại.

Tuy nhiên WTO không chí tập chung vào tự đo hỏa thuong mai, trong một số trường hợp, WTO. còn để ra những quy dinh img hộ việc duy trì rào cản thương mại, ví dụ như trong truềng hợp bảo về người tiêu đùng hay ngăn chặn sự lan tràn của một dịch bềnh nào đó. WTO là tập hợp những quy định Nèng cốt của tổ chức là các hiệp định WTO, được phân lớn các cường quốc thương mại trén thé gidi dim phản và kỷ kết. Những van ban nay lạo thành quy định pháp lý nên lãng của thương mại quốc tế.

Đó chủ yếu là những hợp đồng, theo đó chỉnh phú các nước cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vẫn đề đã thỏa thuận. Mặc đủ đo các chính phủ đàm phán và ký kết, sơng mục tiêu của những hợp đồng nảy là giúp đỡ các nhà sản xuất hàng hoa, dịch vụ củng như các nhà sản xuất, nhập khẩn triển khai các hoạt động của mình, đồng thời vẫn cho phép chính phú các nước dap ứng được những mục tiêu xã hội và môi trường. Mục tiêu trọng tâm của hề thẳng là gớp phan tao nhiều điều kiên thuần lợi cho tự đo hóa thương mại mà vẫn tránh được những tác hại không mong mudén.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ