PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 3. Mục tiêu nghiên cứu 4.
Phạm vi nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu 7. Giả thuyết nghiên cứu 8. Phƣơng pháp nghiên cứu 9.
Kết cấu của Luận văn 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 1. Các hệ khái niệm công cụ 2. Chính sách hoạt động đổi mới, vai trò của chính sách trong việc thúc đẩy hoạt động đổi mới trong các trƣờng đại học - Kinh nghiệm quốc tế CHƢƠNG 2.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI) 1. Thực trạng hoạt động đổi mới trong các trƣờng đại học theo định hƣớng đại học nghiên cứu 2. Thực trạng hoạt động đổi mới trong Đại học Quốc gia Hà Nội 3. Đánh giá thực trạng hoạt động đổi mới ở Đại học Quốc gia Hà Nội CHƢƠNG 3.
HÌNH THÀNH CÁC THIẾT CHẾ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI) 1. Triết lý chính sách trả quyền tự chủ cho hoạt động đổi mới của các trƣờng đại học theo định hƣớng đại học nghiên cứu 2. Tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học 3. Các động lực thúc đẩy của chính sách dựa trên triết lý thực trả quyền tự chủ cho hoạt động đổi mới các trƣờng đại học - Tự chủ về tổ chức - Tự chủ về tài chính - Tự chủ về quản lý nhân lực - Tự chủ về hƣớng nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu khoa học - Tự chủ về thông tin Khoa học và Công nghệ và hợp tác quốc tế KẾT LUẬN VÀ KHUYỀN NGHỊ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm đổi mới Theo thống kê của Cocia (2005), đã có tới hơn 60 định nghĩa về đổi mới đƣợc đƣa ra theo quan điểm của các nhà quản lý, nhà công nghệ, nhà thƣơng mại… Tuy nhiên, các khái niệm này đều có một điểm chung là nhấn mạnh tới tính “sáng tạo”, “tính mới” hàm chứa trong “đổi mới” và mức độ “sáng tạo” và “tính mới” sẽ là một thƣớc đo quan trọng cho việc phân loại “đổi mới”. Ở Việt Nam, theo từ điển Wikipedia, “đổi mới” là một chƣơng trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xƣớng vào thập niên 1980. Chính sách Đổi Mới đƣợc chính thức thực hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986.
Ở định nghĩa này, công cuộc “Đổi mới” tại Việt Nam trong các bài nghiên cứu tiếng Anh gọi là “Renovation”1 hoặc “Reform”2, hoàn toàn khác nghĩa với “innovation”. Ý nghĩa của từ “đổi mới” (innovation) bắt nguồn từ “nova” gốc Latin có nghĩa là “mới”, thƣờng đƣợc hiểu là sự mở đầu cho một sự việc hoặc giải pháp mới.[12] Theo (Westland, 2002) thì Innovation = Invention + Commercialization Đây là cách hiểu đƣợc sử dụng nhiều nhất trên thế giới về “the business of Innovation ". Nó bao hàm hai ý nghĩa chính, 1 thứ đƣợc gọi là Innovation thì phải bắt nguồn từ 1 Invention và phải đƣợc “thƣơng mại hoá” (sinh ra tiền, lợi nhuận cho ngƣời thƣơng mại hoá nó). Những sáng chế mới, dù có đột phá 1 Xem https://en.org/wiki/Doi_Moi 2 Xem https://en.org/wiki/Meiji_Restoration 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tới mức nào đi chăng nữa mà không thể thƣơng mại hoá thì vẫn chỉ là invention mà thôi.
World Bank (2007) đã nêu ra sự khác nhau cơ bản giữa “phát minh sáng chế” và “đổi mới” nhƣ sau: - “Đổi mới” là những sáng tạo mang ý nghĩa xã hội và kinh tế. Chúng có thể là cái “hoàn toàn mới”, song phần lớn là những kết hợp mới từ các thành phần sẵn có. Ngƣợc lại, “phát minh sáng chế” là công nghệ hoàn toàn mới. - “Đổi mới” có thể là “đổi mới đột phá, đổi mới gián đoạn”, nhƣng thông thƣờng là tổng hợp của những đổi mới nhỏ, đƣợc tích lũy dần trong quá trình phát triển.
Ngƣợc lại, “phát minh sáng chế” chắc chắn phải là những “sáng tạo đột phá”, do các nhà nghiên cứu trình độ cao đƣa ra. - “Đổi mới” có thể là đổi mới kỹ thuật công nghệ, hoặc đổi mới quản lý, đổi mới thể chế, đổi mới chính sách. Trên thực tế, “đổi mới” thƣờng đƣợc nhìn nhận nhƣ một “chỉnh thể” từ việc kết hợp các ý nghĩa công nghệ, thể chế, và những thay đổi khác. - “Đổi mới” xuất hiện trong nhiều bối cảnh: để giải quyết các vấn đề khó khăn nút cổ chai trong sản xuất của doanh nghiệp, thay đổi các công nghệ hiện có, nhằm giải quyết vấn đề cạnh tranh, hoặc phải tuân theo yêu cầu của hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, hoặc tiêu chuẩn trong nƣớc, hoặc theo yêu cầu về mặt y tế.
“Đổi mới” đƣợc hiểu là “quá trình của chuỗi các hoạt động tổ chức và sáng tạo mang lại giá trị bền vững”[9] Trong luận văn này khái niệm “đổi mới” đƣợc hiểu là “Sự kết hợp của các hoạt động mang tính mới và sáng tạo nhằm mục đích tạo ra các giá trị xã hội và kinh tế”. Khái niệm chính sách Khái niệm “chính sách” đƣợc xem xét ở nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo hướng tiếp cận xã hội học, chính sách là một tập hợp những biện pháp ƣu đãi đối với một nhóm xã hội nhất định để nhóm này đóng vai trò chủ 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chốt trong việc thực hiện một mục tiêu xã hội nào đó. Nhƣ vậy, một chính sách luôn dẫn đến những bất bình đẳng về mặt xã hội bởi có nhóm đƣợc ƣu đãi, nhóm không đƣợc ƣu đãi và nhóm bị thiệt.
Theo hướng tiếp cận chính trị học, chính sách là tập hợp biện pháp mà một chủ thể quyền lực đƣa ra để định hƣớng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực. Theo lý thuyết trò chơi (Game Theory) chính sách là một sự lựa chọn của các phương án chơi. Trong bối cảnh của sự cạnh tranh, lựa chọn một hoạt động mang tính tốt nhất không theo nghĩa tuyệt đối mà chỉ mang tính tƣơng đối. Nghĩa là các nhà hoạch định chính sách lựa chọn cách thức tiến hành các hoạt động theo nguyên tắc: lựa chọn phƣơng án tốt nhất trong tất cả các phƣơng án mà công ty, nhà kinh doanh biết.
Do đó, để đƣa ra một chính sách cần vận dụng lý thuyết phân tích hệ thống, lý thuyết lựa chọn tối ƣu cũng nhƣ nhiều công cụ toán học khác để quyết định cái tốt nhất. Tiếp cận hệ thống, chính sách vận hành và tác động vào xã hội theo quy luật của một hệ thống, trong đó có một chủ thể chính sách, đối tƣợng chính sách, sự tác động từ chủ thể, dẫn đến phản ứng xã hội trƣớc chính sách và tƣơng tác giữa chính sách với các “nhiễu” từ phía môi trƣờng xã hội. Nhƣ vậy, mỗi chính sách luôn đóng vai trò một công cụ tái đồng hóa hệ thống, nhƣng một mặt khác, sự xuất hiện một chính sách cũng làm cho hệ thống xuất hiện một yếu tố mất đồng bộ mới. Tổng hợp từ các cách tiếp cận trên, ta có định nghĩa chung nhất và đƣợc sử dụng trong nghiên cứu của tác giả: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”[22] 3.
Khái niệm đại học nghiên cứu Theo GS. TSKH Trƣơng Quang Học thì ĐHNC mang một số đặc trƣng: Quy mô lớn, tính liên ngành cao. Trƣờng có hàng trăm mã 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngành/chƣơng trình đào tạo. (ĐH Callifornia, Mỹ có gần 600 chƣơng trình đào tạo ở cả ba bậc, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
; ĐH Thanh Hoa, Trung Quốc có hơn 100 chƣơng trình ĐH, 158 chƣơng trình thạc sĩ, 144 chƣơng trình tiến sĩ…; Hoạt động chủ yếu của đội ngũ cán bộ là NCKH và giảng dạy; Đội ngũ có chất lƣợng cao và có quyền tự chủ cao trong hoạt động, đặc biệt là trong NCKH; Kinh phí NCKH lớn và chủ yếu có từ các nguồn bên ngoài (chiếm > 50% tổng thu của trƣờng); Các điều kiện nghiên cứu đầy đủ về hạ tầng, trang thiết bị và thông tin; Số lƣợng sinh viên sau đại học (đặc biệt là nghiên cứu sinh) lớn và là lực lƣợng nghiên cứu quan trọng của trƣờng (thƣờng > 50%). ĐHNC có ba chức năng: Đào tạo, NCKH, phục vụ xã hội và sự kết hợp chặt chẽ ba chức năng này hiện nay cũng là xu hƣớng cơ bản trong chiến lƣợc phát triển giáo dục ĐH của các nƣớc trên thế giới. Các trƣờng đại học không chỉ là trung tâm đào tạo mà đã thực sự trở thành các trung tâm NCKH, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới hiện đại. Trong đó, NCKH và phục vụ thực tiễn vừa là phƣơng tiện (học qua NC), vừa là mục đích (học cho NC) vừa là động lực để đào tạo, nhất là đào tạo chất lƣợng cao.
Nói cách khác, NCKH và phục vụ xã hội là yếu tố quyết định nhất tới chất lƣợng đào tạo. Vì vậy, liên kết với các doanh nghiệp, với sản xuất (theo công thức: Nhà nƣớc – ĐH – Cộng đồng – Doanh nghiệp) là xu hƣớng ngày một phát triển[20] Theo hƣớng dẫn các tiêu chí trƣờng ĐHNC của ĐHQGHN thì ĐHNC có 4 giá trị cốt lõi: Phát minh và khám phá; Sáng tạo và sáng nghiệp; chất lƣợng đỉnh cao; mô hình mở và giải phóng mọi nguồn lực và 6 đặc trƣng cơ bản: qui mô đa ngành, đa lĩnh vực; tích hợp đào tạo với nghiên cứu ở cá bậc đại học; tập trung vào đào tạo sau đại học; giảng viên là nhà khoa học; NC chất lƣợng cao; lãnh đạo hiệu quả. Các tiêu chí đánh giá trƣờng ĐHNC theo ĐHQGHN là: Thành tích NCKH và chuyển giao tri thức; chất lƣợng đào tạo; mức độ quốc tế hoá; cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo và NCKH. 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.