Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tính đến năm 2013 ghi nhận quy mô gồm 207 trường đại học, 214 trường cao đẳng cùng đội ngũ hơn 91.000 giảng viên. Đáng chú ý, lực lượng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các trường đại học chiếm tới 46,07% tổng nhân lực nghiên cứu và triển khai của toàn quốc với 62.095 người. Mặc dù nắm giữ nguồn lực chất xám dồi dào, các trường đại học tại Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào chức năng đào tạo truyền thống; tỷ trọng đầu tư tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chỉ chiếm khiêm tốn 17,83% tổng nguồn lực quốc gia. Thực trạng này khiến hoạt động đổi mới sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ và thương mại hóa công nghệ trong môi trường học thuật còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng luận cứ khoa học và đề xuất hệ thống chính sách đồng bộ nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong các trường đại học ở Việt Nam theo định hướng đại học nghiên cứu, lấy mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội làm trường hợp điển hình. Phạm vi nghiên cứu bao quát các chính sách tác động đến hoạt động khoa học công nghệ từ năm 2000 đến năm 2015, tập trung khảo sát không gian thực tiễn tại các trường đại học và viện nghiên cứu thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc định hình giải pháp thể chế giúp các trường nâng cao năng lực tự chủ, gia tăng số lượng công bố quốc tế và hiện thực hóa mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu từ khoa học công nghệ đạt từ 15% đến 25% tổng nguồn thu theo định hướng của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng cách tiếp cận hệ thống và lý thuyết trò chơi trong khoa học chính sách để phân tích sự tương tác giữa chủ thể quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục đại học và khối doanh nghiệp. Về bản chất của đổi mới sáng tạo, công trình áp dụng mô hình của Westland với công thức: Đổi mới sáng tạo bằng Phát minh cộng với Thương mại hóa. Khung lý thuyết này khẳng định một ý tưởng khoa học chỉ trở thành đổi mới khi được đưa vào thực tiễn sản xuất và mang lại giá trị gia tăng về kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm công cụ then chốt gồm: Đại học nghiên cứu, Tự chủ đại học đi liền với Trách nhiệm giải trình, Kết quả nghiên cứu khoa học và Doanh nghiệp công nghệ tách ra từ trường đại học. Mô hình đại học nghiên cứu được định hình dựa trên liên kết bốn nhà: Nhà nước, Trường đại học, Doanh nghiệp và Cộng đồng. Kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc với mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến KAIST, Nhật Bản với chính sách chuyển đổi 87 trường đại học quốc gia thành pháp nhân độc lập năm 2004, Hoa Kỳ với cơ chế đa dạng hóa nguồn tài chính ngoài ngân sách, cùng hệ thống Viện Công nghệ Ấn Độ IIT đã cung cấp bài học sâu sắc về việc trao quyền tự do học thuật và tự chủ tài chính toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp của luận văn được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ, cùng các bảng xếp hạng học thuật uy tín như SCImago và Webometrics trong giai đoạn 2000 - 2015. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 20 chuyên gia là cán bộ lãnh đạo quản lý, giảng viên cao cấp và nhà khoa học trực tiếp chủ trì các đề tài khoa học công nghệ.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng tại các đơn vị nòng cốt thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, trung bình 3 mẫu tại mỗi đơn vị như: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Kinh tế và các viện nghiên cứu chuyên ngành. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa các văn bản quy phạm pháp luật với trải nghiệm thực tế của đội ngũ nghiên cứu, từ đó phát hiện chính xác các rào cản thể chế và nguyên nhân khiến chính sách chưa đi vào cuộc sống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý lớn về cơ cấu nhân lực và phân bổ tài chính trong hệ thống giáo dục đại học. Mặc dù các trường đại học tập trung 46,07% tổng lực lượng nghiên cứu cả nước với hơn 8.000 tiến sĩ và khoảng 3.500 giáo sư, phó giáo sư, nhưng tổng kinh phí dành cho nghiên cứu và triển khai chỉ chiếm 17,83% toàn ngành. Trong cơ cấu tài chính khoa học công nghệ của trường đại học, nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng áp đảo tới 82,17%, trong khi nguồn vốn đóng góp từ khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp chỉ đạt 17,83%.

Hiệu quả tạo nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học Việt Nam ở mức rất thấp. Thống kê tại 40 trường đại học lớn trong giai đoạn 2006 - 2008 cho thấy tỷ trọng doanh thu từ hoạt động khoa học công nghệ chỉ chiếm 3,92% tổng nguồn tài chính, chỉ đạt 26% so với mục tiêu 15% mà Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP đề ra. Đặc biệt, nguồn thu trực tiếp từ chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu chỉ chiếm vỏn vẹn 0,39%. Ngay tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đơn vị có thế mạnh vượt trội với doanh số chuyển giao đạt gần 450 tỷ đồng giai đoạn 2006 - 2010, tỷ trọng đóng góp của hoạt động này vào tổng thu toàn trường cũng chỉ đạt khoảng 2%.

Năng lực xác lập quyền sở hữu trí tuệ và công bố quốc tế còn khoảng cách lớn so với khu vực. Trong giai đoạn 2003 - 2010, toàn bộ khối trường đại học chỉ được cấp 11 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích, khối viện nghiên cứu có 19 bằng. Giai đoạn 2006 - 2010, bảng xếp hạng SCImago ghi nhận Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh có 720 bài báo quốc tế (xếp hạng 2.774), Đại học Quốc gia Hà Nội có 492 bài (xếp hạng 3.155) và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có 488 bài (xếp hạng 3.160). Về mặt thể chế, chương trình thí điểm tự chủ tài chính tại 5 trường đại học công lập từ năm 2005 đã bộc lộ nhiều bế tắc do thiếu tính đồng bộ với tự chủ nhân sự và vướng mắc về cơ chế thanh quyết toán.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp kéo dài khiến các trường thụ động chờ đợi giao chỉ tiêu và kinh phí từ ngân sách. Sự thiếu vắng các tổ chức dịch vụ trung gian chuyên nghiệp như văn phòng chuyển giao công nghệ, vườn ươm sáng tạo và doanh nghiệp spin-off đã làm đứt gãy mối liên kết giữa nghiên cứu hàn lâm và thị trường sản xuất.

So sánh với quốc tế, quá trình cải cách năm 2004 tại Nhật Bản đã giúp 87 trường đại học quốc gia chuyển đổi thành công sang mô hình công ty độc lập, tiết kiệm được 13,7 tỷ yên chi phí trả lương công chức và thu về 11,8 tỷ yên từ bản quyền công nghệ trong năm 2005. Tại Hàn Quốc, có tới 96% giáo sư tại Đại học Quốc gia Seoul đồng thuận chuyển đổi quản trị để nâng cao tính cạnh tranh. Trong thực tiễn nghiên cứu, việc trình bày dữ liệu thông qua biểu đồ tròn so sánh cơ cấu nguồn thu nghiên cứu (3,92% thực tế so với mục tiêu 15%) cùng bảng ma trận đối chiếu số lượng sáng chế giữa các trường đại học sẽ giúp các nhà quản lý thấy rõ điểm nghẽn của dòng chảy tri thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Khoa học và Công nghệ cần hoàn thiện khung pháp lý và phân cấp quyền tự chủ toàn diện (bao gồm tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và định hướng học thuật) cho các trường đại học nghiên cứu theo tinh thần của Luật Giáo dục đại học năm 2012 và Nghị định số 115/2005/NĐ-CP. Mục tiêu đặt ra là giúp các trường tự quyết định quy mô đào tạo, mở ngành và tuyển dụng nhân tài, phấn đấu nâng tỷ lệ nguồn thu khoa học công nghệ lên mức 25% tổng ngân sách trường đại học đến năm 2020.

Bộ Tài chính phối hợp với các bộ ngành liên quan sửa đổi cơ chế phân bổ và quyết toán kinh phí nghiên cứu theo hướng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; thực thi hiệu quả Thông tư số 78/2014/TT-BTC nhằm khuyến khích doanh nghiệp trích tối thiểu 10% thu nhập tính thuế lập quỹ phát triển khoa học công nghệ để đặt hàng nghiên cứu tại trường đại học. Giải pháp này cần hoàn thành việc hướng dẫn chi tiết trong giai đoạn 2016 - 2018 nhằm huy động nguồn lực đầu tư tư nhân đạt mức tối thiểu 30% trong tổng chi nghiên cứu của trường.

Đại học Quốc gia Hà Nội và các trường đại học định hướng nghiên cứu cần khẩn trương tái cấu trúc hệ thống quản trị, thành lập các Văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO) và quỹ đầu tư mạo hiểm nội bộ. Mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020 là ươm tạo thành công từ 5 đến 10 mô hình doanh nghiệp spin-off hoạt động độc lập dựa trên việc khai thác sáng chế của nhà khoa học, giải quyết dứt điểm các vướng mắc sở hữu tài sản công.

Hội đồng trường và ban giám hiệu các trường thành viên cần ban hành quy chế nội bộ về quản lý tài sản trí tuệ với tỷ lệ phân chia lợi nhuận tối thiểu từ 30% đến 50% cho tác giả sáng chế khi chuyển giao thương mại thành công. Chính sách đãi ngộ tài chính vượt trội này sẽ tạo động lực trực tiếp, hướng tới mục tiêu tăng số lượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp của toàn trường thêm 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tự chủ đại học, đổi mới cơ chế tài chính công và cơ chế thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ trong trường đại học.

Ban giám đốc, ban giám hiệu và cán bộ quản lý tại các đại học quốc gia, đại học vùng và các trường đại học định hướng nghiên cứu: Công trình gợi mở mô hình chuyển đổi quản trị, phương thức đa dạng hóa nguồn tài chính ngoài ngân sách và cách thức xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ chuyển giao công nghệ hiệu quả trong khuôn viên đại học.

Đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tài liệu giúp nâng cao nhận thức về quy trình bảo hộ sở hữu trí tuệ, nắm vững các kênh thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và phương thức tiếp cận nguồn tài trợ từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ.

Lãnh đạo các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các nhà đầu tư công nghệ: Nghiên cứu mở ra cơ hội thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược với các trường đại học lớn, giúp doanh nghiệp tận dụng cơ sở hạ tầng phòng thí nghiệm và đón đầu các công nghệ nguồn có giá trị kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

Đổi mới sáng tạo trong trường đại học nghiên cứu khác gì so với phát minh thông thường? Phát minh là việc tạo ra công nghệ hoặc nguyên lý hoàn toàn mới trong phòng thí nghiệm. Trong khi đó, đổi mới sáng tạo đòi hỏi phát minh phải được thương mại hóa thành công trên thị trường để tạo ra lợi nhuận và giá trị xã hội, theo đúng nguyên lý của Westland là đổi mới bằng phát minh cộng thương mại hóa.

Vì sao tỷ lệ thương mại hóa sáng chế tại các trường đại học Việt Nam thời gian qua còn rất thấp? Nguyên nhân chủ yếu do các đề tài nghiên cứu chưa bám sát nhu cầu thực tế của thị trường, thiếu các đơn vị trung gian chuyên trách về xúc tiến thương mại công nghệ, và khối trường đại học chỉ sở hữu vỏn vẹn 11 bằng độc quyền sáng chế trong suốt giai đoạn 2003 - 2010.

Quyền tự chủ toàn diện có vai trò quyết định thế nào đối với trường đại học nghiên cứu? Tự chủ là điều kiện tiên quyết giúp nhà trường linh hoạt trong việc huy động tài chính ngoài ngân sách, chủ động bổ nhiệm nhân sự chất lượng cao và tự do lựa chọn hướng nghiên cứu đột phá, tương tự như cách Viện KAIST của Hàn Quốc vươn lên top 21 thế giới về kỹ thuật.

Kinh nghiệm chuyển đổi mô hình đại học quốc gia của Nhật Bản mang lại bài học gì cho Việt Nam? Nhật Bản đã chuyển 87 trường đại học quốc gia sang mô hình công ty độc lập vào năm 2004, xóa bỏ tư cách công chức của cán bộ để tăng tính tự chủ, từ đó giúp các trường thu được 11,8 tỷ yên từ sáng chế và đạt 71,6 tỷ yên lợi nhuận năm 2005.

Chính sách tài chính hiện hành ưu đãi ra sao cho hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học? Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đồng thời cho phép doanh nghiệp trích tối thiểu 10% thu nhập trước thuế lập quỹ phát triển khoa học công nghệ để liên kết nghiên cứu.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mô hình đại học nghiên cứu dựa trên triết lý tự chủ và trách nhiệm giải trình.
  • Công trình đã chỉ rõ nghịch lý thực tiễn: trường đại học chiếm 46,07% nhân lực nghiên cứu nhưng nguồn thu từ khoa học công nghệ chỉ chiếm 3,92% tổng ngân sách hoạt động.
  • Nghiên cứu đã nhận diện chính xác các điểm nghẽn thể chế, sự thiếu vắng của mô hình doanh nghiệp spin-off và nút thắt trong cơ chế tài chính thí điểm tự chủ.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ về quản trị học thuật và đa dạng hóa nguồn thu.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp thể chế 4 trọng tâm gắn liền với lộ trình cụ thể nhằm thúc đẩy Đại học Quốc gia Hà Nội phát triển thành đại học nghiên cứu đẳng cấp khu vực.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp khung chính sách hoàn chỉnh giúp gắn kết hữu cơ giữa đào tạo, nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm trí tuệ. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến năm 2020, việc hiện thực hóa các khuyến nghị này sẽ là chìa khóa tháo gỡ rào cản hành chính và giải phóng tối đa năng lực sáng tạo học thuật. Các nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học và doanh nghiệp hãy chủ động tham khảo công trình nghiên cứu này để cùng chung tay kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đại học bền vững tại Việt Nam.