CHƯƠNG 1 VẬN DỤNG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC-CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.Tổng quan CCTT 1. KTTT và CCTT Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội loài người cho thấy có hai kiểu tổ chức KT-XH cơ bản đó là kinh tế tự nhiên(còn được gọi là kinh tế tự cung, tự cấp) và kinh tế hàng hoá. Từ khi xuất hiện cho đến nay, kinh tế hàng hoá đã và đang trải qua các hình thức cơ bản là kinh tế hàng hoá giản đơn và KTTT. Hiện nay KTTT cùng với cơ chế của nó là CCTT hiện diện và tồn tại phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới, cùng với đó nó cũng hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế đến văn hoá, giáo dục.
Vậy KTTT và CCTT là gì? 1. Khái niệm KTTT KTTT được hiểu là “trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường ” [6], trong đó kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức KT-XH mà ở đó người ta sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, để bán trên thị trường. Còn thị trường được hiểu là tổng hòa những mối quan hệ mua- bán trong xã hội, được hình thành và phát triển trong những điều kiện KT-XH nhất định. Từ điển “Kinh tế học hiện đại ” định nghĩa KTTT là “một kiểu tổ chức kinh tế trong đó các quyết định về việc phân bổ các nguồn lực sản xuất và phân phối sản phẩm được đưa ra trên cơ sở thỏa thuận tình nguyện về giá cả giữa nhà sản xuất và khách hàng; người lao động và người sử dụng lao động ” [26] Trong khi đó, “Đại từ điển KTTT ” cũng đưa ra một định nghĩa về CCTT “là phương thức vận hành kinh tế lấy thị trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hóa làm người phân phối tài nguyên chủ yếu, lấy lợi ích vật chất cung-cầu thị trường và mua bán giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế và phương thức vận hành kinh tế ” [16] 7 z Cũng có thể hiểu KTTT là kiểu tổ chức KT-XH, trong đó các hoạt động kinh tế gắn chặt với nhau và với thị trường.
Lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển, trình độ phân công lao động xã hội ngày càng cao thì các quan hệ kinh tế và thị trường cũng ngày càng được mở rộng và trở nên phức tạp. Hệ thống thị trường quốc gia trở nên thống nhất, thông suốt và gắn kết chặt chẽ hơn với thị trường thế giới. Các doanh nghiệp và các nền kinh tế lệ thuộc vào nhau chặt chẽ hơn, cả “đầu vào ”, “đầu ra ” và nhìn chung, cả người sản xuất và người tiêu dùng đều được hưởng lợi từ sự lệ thuộc đó. Vì thế, mặc dù trong lịch sử đã từng xuất hiện những lực lượng phản đối KTTT nhưng với tư cách quy luật phát triển tất yếu, ngày nay, KTTT đã phát triển và phổ biến trên phạm vi toàn thế giới.
Trong nền KTTT, các hoạt động kinh tế vận hành theo cơ chế, nguyên tắc riêng, gọi là CCTT và đặc trưng chung của các nền kinh tế vận hành theo CCTT thường bao gồm: Một là, Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh. Việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai, bằng phương tiện gì là do tự bản thân mỗi chủ thể kinh tế chứ không phải do nhà nước chi phối như trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Hai là, giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được hình thành và phát triển đầy đủ, nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Trong nền KTTT cơ sở định giá cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ là các yếu tố thị trường: giá trị, cung- cầu, cạnh tranh….
Điều này hoàn toàn khác với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nơi mà giá cả hàng hóa được ấn định bởi yếu tố mang đầy tính chủ quan là nhà nước. Ba là, nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của KTTT như quy luật giá trị, cung-cầu, cạnh tranh…Sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế. Việc phân bổ nguồn lực, mở rộng hay thu hẹp một ngành nghề sản xuất nào đó là do sự chi phối bởi các quy luật trên thông qua tín hiệu giá cả thị trường. 8 z Bốn là, nếu là nền KTTT hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hóa, các chính sách…Lịch sử phát triển KTTT trên thế giới đã cho thấy, CCTT mang tính hai mặt vừa có ưu điểm lại vừa có khuyết tật.
Để phát huy ưu điểm, sửa chữa thất bại, khuyết tật của CCTT, các nhà nước đã tích cực can thiệp từ gián tiếp cho đến trực tiếp vào nền KT-XH. Khái niệm CCTT “CCTT là cơ chế tự điều tiết của nền KTTT do sự tác động của các quy luật vốn có của nó. Nói một cách cụ thể hơn, CCTT là hệ thống hữu cơ của những sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết lẫn nhau của các yếu tố giá cả, cung-cầu, cạnh tranh… trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trường để điều tiết nền KTTT ” [6]. Như vậy, CCTT là cơ chế điều tiết, vận hành nền kinh tế thông qua sự biến động của giá cả thị trường, sự cạnh tranh của các chủ thể thị trường đối với lợi ích của mình và sự biến đổi của quan hệ cung-cầu sản xuất.
CCTT chính là cơ chế mà các quy luật KTTT như: quy luật giá trị, quy luật cung-cầu, quy luật cạnh tranh, … phát sinh tác dụng điều tiết. Xét từ chiều ngang, CCTT chủ yếu gồm có cơ chế giá cả, cơ chế cung-cầu, cơ chế cạnh tranh, cơ chế rủi ro. Những cơ chế này có liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau. Nói một cách tổng thể, cơ chế giá cả là trung tâm, nó là hình thức biểu hiện và hình thức tác động cụ thể của quy luật giá trị.
Sự biến động của giá cả tất nhiên sẽ gây ra sự biến động của cung-cầu, đồng thời dẫn đến cạnh tranh và rủi ro; ngược lại sự biến đổi của cung-cầu lại gây ra hiện tượng giá cả lên xuống, từ đó dẫn đến cạnh tranh và rủi ro. Cạnh tranh trong ngành đã thúc đẩy khiến cho các yếu tố sản xuất được phân bổ vào những đơn vị kinh tế có năng suất lao động cao, hiệu quả và lợi ích kinh tế tốt, thực hiện sự phân bổ hợp lý tài nguyên cả ở tầm vi mô. Cạnh tranh giữa các ngành đã thúc đẩy khiến cho các yếu tố sản xuất chuyển dịch vào các ngành sản xuất còn thiếu hụt, thực hiện sự phân bổ hợp lý các tài nguyên ở tầm vĩ mô. Xét từ chiều dọc, CCTT gồm có CCTT chung và CCTT cụ thể.
CCTT chung là chỉ CCTT tồn tại và phát sinh tác dụng ở bất kỳ thị trường nào. Như ở các thị trường hàng hóa, thị trường tín dụng tiền tệ, thị trường sức lao động… thì cơ chế giá cả, cơ chế cung cầu, cơ chế cạnh tranh và cơ 9 z chế rủi ro đều phát huy tác dụng. CCTT cụ thể là chỉ CCTT riêng có và phát huy tác dụng độc đáo ở trên các thị trường. Như cơ chế lãi suất của thị trường tài chính, tiền tệ; cơ chế tỷ giá hối đoái của thị trường ngoại hối; cơ chế tiền lương của thị trường sức lao động… 1.
Các quy luật của CCTT Từ việc phân tích khái niệm CCTT có thể thấy nó là sự thống nhất, tác động qua lại, quy định lẫn nhau của các quy luật và cơ chế chủ yếu: quy luật giá trị, cơ chế giá cả, cơ chế cung-cầu và cơ chế cạnh tranh 1. Quy luật giá trị và cơ chế giá cả Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và hoạt động quy luật giá trị. Trong nền kinh tế hàng hóa nói chung, KTTT nói riêng, quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên hao phí thời gian lao động xã hội cần thiết, tức là dựa trên cơ sở giá trị.
Yêu cầu này của quy luật giá trị giống như là cơ chế “bàn tay vô hình ” đã dẫn dắt và chi phối hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền KTTT. Quy luật giá trị là trừu tượng, sự hoạt động của nó được thực hiện và thể hiện thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Giá cả hàng hóa được xác định là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó luôn luôn vận động lên xuống xoay quanh cơ sở giá trị của nó do sự tác động thường xuyên của các yếu tố luôn thay đổi là cung-cầu, cạnh tranh, giá trị hay sức mua của tiền…Tương tự, giá cả thị trường được hiểu là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường; giá cả thị trường là phạm trù trung tâm, là sự biểu hiện tập trung cũng như là tín hiệu của CCTT. Ở đây, giá cả thị trường của hàng hóa có các chức năng cơ bản là: thông tin cho các chủ thể kinh tế, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, phân bổ các nguồn lực kinh tế… Sự hoạt động của quy luật giá trị thông qua cơ chế giá cả thị trường đã làm phát sinh các tác động cơ bản sau đây: 10 z - Quy luật giá trị thực hiện điều tiết tự phát sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Điều đó có nghĩa là trong nền KTTT ở một hoàn cảnh nhất định quy mô sản xuất và lưu thông sẽ luôn luôn thay đổi do sự hoạt động của quy luật giá trị. - Quy luật giá trị kích thích các chủ thể kinh tế cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất từ đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Trong nền KTTT, các chủ thể sản xuất, kinh doanh thường có sự khác nhau về điều kiện sản xuất và cung ứng do đó khác nhau về chi phí và giá trị cá biệt, nhưng khi bán sản phẩm thì chỉ có thể bán theo giá mà thị trường chấp nhận, tức là giá cả dựa trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hóa.