đặt vấn đề nghien cứu về chính sách thúc đẩy CGCN qua FDI. Một nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Văn Duy, Đào Trung Kiên, Bùi Quang Tuyến về “Ảnh hƣởng của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2013”. Nhóm tác giả sử dụng mô hình ARDL để đánh giá ảnh hƣởng của FDI và GDP có độ trễ 1 năm, có thể giải thích doanh nghiệp đầu tƣ vào Việt Nam chủ yếu sử dụng công nghệ thấp, sử dụng nhiều lao động, khia thác nhanh tiềm năng thị trƣờng. Nghiên cứu này cũng đƣa ra hàm ý rất rõ ràng muốn tăng trƣởng kinh tế không thể gạt bỏ FDI, tuy nhiên lựa chọn đối tác đầu tƣ nhƣ thê nào, chính sách giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút và nâng cao hiệu quả FDI nhƣ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về đầu tƣ, sửa đổi chính sách ƣu đãi đầu tƣ theo hƣớng nhất quán công khai, minh bạch, chính sáchnhằm khuyến khích nhà đầu tƣ 9 z nƣớc ngoài đầu tƣ vào lĩnh cực kết cấu hạ tầng, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích thu hút các dự án công nghệ cao và phù hợp vào Việt Nam.
Các kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ cho thấy hoạt động nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam vân chƣa tạo ra đƣợc nhiều công nghệ mang tính đột phá hƣớng nghiên cứu còn dàn trải và ít gắn kết với các mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể; các chính sách hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới công nghệ thời gian qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đào tạo nhân lực; hợp tác trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ chủ yếu thông qua các hình thức song phƣơng, chƣa có các chính sách khuyến khích đủ mạnh để thu hút chuyên gia giỏi nƣớc ngoài, trí thức Việt kiều trực tiếp làm việc tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trong nƣớc; chƣa có chính sách thu hút các công ty có công nghệ cao hàng đầu thế giới vào ứng dụng và triển khai ở nƣớc ta. Có ý kiến cho rằng các doanh nghiệp tƣ nhân và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài rất khó tận dụng đƣợc các chƣơng trình này một phần do thủ tục hành chính rƣờm rà, phức tạp, không rõ ràng trong việc tiếp cận vốn, phần khác do các cơ quan nhà nƣớc có xu hƣớng tránh rủi ro. Các chƣơng trình cụ thể hiện tại để thúc đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu kém. Mặc dù môi trƣờng pháp lý của Việt Nam dƣờng nhƣ rất tích cực thúc đẩy đầu tƣ và chuyển giao công nghệ, trên thực tế các doanh nghiệp khó tiếp cận.
“Cách nào để các tập đoàn đa quốc gia chuyển giao công nghệ cho Việt Nam” ngày 12 tháng 9 năm 2014 trên Thời báo Tài chính Việt Nam, Ông Nguyễn Xuân Phong – một chuyên gia đã giữ vị trị quản lý và đầu tƣ cấp cao tại công ty đa quốc gia nhƣ Philips, Shell, Cargill, Samsung C&T corporation và Tập đoàn Eurowindow Holding cho rằng: “Việt nam chưa có tầm nhìn chiến lược trong việc hoạch định chính sách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và cũng chưa có sách lược cụ thể để ràng buộc các doanh nghiệp nước ngoài 10 z đầu tư vào Việt Nam phải chuyển giao công nghệ cho nước ta. Chính điều này đã khiến Việt Nam luôn ở vào vị thế yếu”. Đỗ Thiên Anh Tuấn trả lời vần đề “Vì sao các doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ ?” trên báo Đất Việt ngày 15/4/2014 do tác giả Tâm Anh thực hiện nhƣ sau: Việc chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp FDI thời gian qua yếu kém cả về mặt lƣợng và chất. Ông cho rằng nguyên nhân lớn là do chính sách và môi trƣờng thu hút FDI không đƣợc thiết kế để khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ chứ không phải lỗi của nhà đầu tƣ FDI hay của doanh nghiệp Việt Nam.
Các mục tiêu chiến lƣợc để thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài theo kiểu chung chung, không rõ ràng, không có phƣơng án cụ thể nào để khuyến khích và thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ. (3)Nhóm nghiên cứu về liên quan đến việc tạo dựng cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp chuyển giao công nghệ CIEM (2012): Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam, kết quả điều tra năm 2012. Trong nghiên cứu này, tại mục chính sách công nghệ và đổi mới của Việt Nam đã cung cấp tổng quan chính sách hiện hành nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, đặc biệt là thông qua FDI, Với nhiều chính sách khác nhau nhƣ: Chính sách thuế nhằm khuyến khích chuyển giao công nghệ: Mục tiêu chiến lƣợc của chính phủ về khuyến khích phát triển ngành có giá trị tăng cao hơn cũng nhƣ tăng đầu tƣ vào thiết bị và phƣơng pháp sản xuất hiện đại đã đƣợc thực hiện qua chính sách thuế. Bên cạnh đó nhà nƣớc còn sử dụng Luật đầu tƣ để tạo môi trƣờng thuận lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu những công nghệ có khă năng lan tỏa sang các doanh nghiệp khác.
Có thể thấy rằng Chính phủ khuyến khích FDI là kênh chuyển giao công nghệ chính trong hai thập kỷ gần đây. Kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu Dựa trên các quan điểm nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau của các công trình nghiên cứu ở trong nƣớc cũng nhƣ ở ngoài nƣớc đã có những đóng góp lớn về hoạt động chuyển giao công nghệ qua FDI, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ, qua đó đánh giá đƣợc vai trò của FDI trong hoạt động chuyển giao công nghệ, các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp FDI, chính sách chuyển giao công nghệ qua FDI, đồng thời khẳng định vai trò của chính sách nhà nƣớc nhằm thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ. Mặc dù các nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn, tuy nhiên các nghiên cứu về chuyển giao công nghệ, chính sách chuyển giao công nghệ, nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu về chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ qua FDI. Do đó, với mục đích nghiên cứu thực trạng chính sách thu hút công nghệ nƣớc ngoài, cụ thể là FDI vào Việt Nam trong thời gian qua để tìm ra những mặt đƣợc và chƣa đƣợc của chính sách, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chinh sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ qua FDI là mục tiêu của luận văn.
Cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI 1. FDI và chuyển giao công nghệ qua FDI 1. Khái niệm Đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) Theo nguồn quốc tế: Khái niệm của IMF : FDI là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ 12 z của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ, mục đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. (BPM5, fifth edition) Khái niệm của OECD : Đầu tƣ trực tiếp là hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách : Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ.
Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có. Tham gia vào một doanh nghiệp mới. Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) Quyền kiểm soát : nắm từ 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên. Theo định nghĩa của Chính phủ Mỹ, ngoài những nội dung tƣơng tự khái niệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh nghiệp, hoặc lợi ích tƣơng đƣơng trong các đơn vị kinh doanh không có tƣ cách pháp nhân".
Theo nguồn Việt Nam Luật đầu tƣ năm 2005 mà quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua có các khái niệm về “đầu tƣ”, “đầu tƣ trực tiếp”, “đầu tƣ nƣớc ngoài”, “đầu tƣ ra nƣớc ngoài nhƣng không có khái niệm “đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài”. Tuy nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu FDI là hình thức đầu tƣ do nhà đầu nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ ở Việt Nam hoặc nhà đầu tƣ Việt Nam bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ ở nƣớc ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một khoản đầu tƣ đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát (control) của một chủ thể cƣ trú ở một nền kinh tế (đƣợc gọi là chủ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 13 z hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cƣ trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tƣ nƣớc ngoài (đƣợc gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nƣớc ngoài) FDI chỉ ra rằng chủ đầu tƣ phải có một mức độ ảnh hƣởng đáng kế đối với việc quản lý doanh nghiệp cƣ trú ở một nền kinh tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới đƣợc coi là FDI.
Công nghệ và phân loại công nghệ Công nghệ (tiếng Anh: technology) là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phƣơng pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ đến một tập hợp những công cụ nhƣ vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình. Công nghệ ảnh hƣởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con ngƣời cũng nhƣ của những động vật khác vào môi trƣờng tự nhiên của mình. Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dƣơng ESCAP: “Công nghệ là một hệ thống kiến thức về qui trình và kỹ thuật chế biến sản phẩm vật chất hay thông tin”.
Sau đó ESCAP mở rộng khái niệm trên “Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin”.