lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng : Chƣơng 1 : Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận thực tiễn Chƣơng 2 : Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 : Thực trạng thu hút các doanh nghiệp trong nƣớc vào Hà Tĩnh Chƣơng 4 : Phƣơng hƣớng và Giải pháp về chính sách thu hút các doanh nghiệp trong nƣớc vào Hà Tĩnh 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƢỚC ĐẦU TƢ VÀO HÀ TĨNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách thu hút các doanh nghiệp trong nƣớc đầu tƣ vào Hà Tĩnh Chính sách thu hút doanh nghiệp trong nƣớc nói chung là vấn đề dành đƣợc sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu khoa học cũng nhƣ các chuyên gia về cải cách hành chính nhà nƣớc. Nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài đã đƣợc công bố nhƣ: Tác giả Quách Minh Hằng có công trình :”Thu hút vốn đầu tƣ vào các khu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Yên Bái”, bàn luận các nguồn vốn đầu tƣ nhƣ vốn nƣớc ngoài ,trong nƣớc ,FDI,vốn ODA.đƣợc đầu tƣ vào tỉnh một cách tích cực và tận dụng triệt để nguồn vốn để đầu tƣ vào các khu công nghiệp ,đề xuất những giải pháp hợp lý để huy động nguồn vốn đó một cách hiệu quả nhằm đƣa nền kinh tế tỉnh Yên Bái ngày một đi lên. Tác giả Ths kts Lê Thị Thúy Hà có công trình nghiên cứu “Chính sách quản lý nhà ở xã hội cho thuê tại các đô thị ở Việt nam trong lao động nữ tự do nông thôn đến thành phố ”, Nội dung bài luận văn trình bày nội dung cải thiện cuộc sống cho lao động nữ ở nông thôn ra thành phố lập nghiệp,nêu lên thực trạng và giải pháp quản lý khu đô thị kiểu mới này của Việt nam.
Tác giả NCS Hoàng Văn Tuyên có công trình “một số chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp ”,tác giả đề cập đến các hoạt động nghiên cứu khác gì với triển khai thực tiễn của các doanh nghiệp.Nêu lên đƣợc các chính sách ngiên cứu có hiệu quả và mang lại hiệu quả thiết thực cho các doanh nghiệp. 5 z Tác giả Hoàng Thị Cẩm Nhung có công trình nghiên cứu “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn các chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ”, Tác giả đề cập đến các nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách kế toán của doanh nghiệp ,và chính sách này đã mang lại hiệu quả thiết thực gì cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Tác giả Phan Thị Minh Huệ có công trình nghiên cứu “Thu hút và sử dụng vốn đầu tư doanh nghiệp trong nước vào Hưng Yên ”,Tác giả đề cấp đến chính sách thu hút nào phù hợp với sự phát triển của tỉnh Hƣng Yên và đƣa ra các giải pháp trong việc sử dụng nguồn vốn trong việc thu hút doanh nghiệp trong nƣớc vào tỉnh. Cơ sở lý luận về vốn đầu tƣ và chính sách thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế 1.Vốn đầu tư * Khái niệm về vốn đầu tư : Ta có thể hiểu thực chất vốn đầu tƣ ở đây chính là biểu hiện bằng Tiền, là giá trị tài sản mà các doanh nghiệp đang nắm giữ.
Vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tƣ, nguồn lực có thể là của cải vật chất ,tài nguyên thiên nhiên ,là sức lao động và tất cả các tài sản vật chất khác trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn đƣợc quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu trong quá trình sản xuất tiếp theo của các doanh nghiệp .Nhƣ vậy vốn là không thể thiếu của hoạt động sản xuất kinh doanh ,là điều kiện đầu tiên để tiến đến sản xuất kinh doanh. * Phân loại vốn đầu tư + Tài sản cố định và đầu tƣ dài hạn : tài sản dài hạn + Tài sản lƣu động và đầu tƣ ngắn hạn : tài sản ngắn hạn vì vậy vốn của doang nghiệp cũng đƣợc vốn cố định và vốn lƣu động * Vai trò của vốn đầu tư trong phát triển kinh tế 6 z Vốn là điều kiện hàng đầu để tăng trƣởng và phát triển quốc gia ,riêng đối với các nƣớc kém phát triển để có tốc độ tăng trƣởng cao và phát triển ổn định cần phải có một lƣợng vốn ổn định .Điều này càng đƣợc khẳng định lớn khi nghiên cứu vai trò của vốn đầu tƣ với tăng trƣởng và phát triển của mọi đất nƣớc - Vai trò của vốn đầu tƣ trong nƣớc : theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản ,có vai trò chi phối mọi sự phát triển hoạt động đầu tƣ trong nƣớc. Trong lịch sử phát triển của các nƣớc và phƣơng diện lý luận chung ,bất kỳ nƣớc nào cũng phải sử dụng lực lƣợng nội bộ là chính ,sự chi viện bổ sung từ bên ngoài là tạm thời ,chỉ bằng cách sử dụng vốn đầu tƣ trong nƣớc có hiệu quả mới nâng cao đƣợc vai trò của nó và thực hiện đƣợc mục tiêu quan trong đề ra. - Vốn đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc (NSNN): là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lƣợng đầu tƣ.
Nó có vị trí quan trọng tạo ra môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tƣ của một thành phần đầu tƣ theo định hƣớng chung của chính sách ,kế hoạch và pháp luật ,đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế ,đảm bão theo đúng định hƣớng của chiến lƣợc và quy hoạch phát triển xã hội Với vai trò và công cụ thức đẩy tăng trƣởng ,ổn định điều tiết vĩ mô,vốn từ NSNN đã đƣợc nhận thức và đƣợc vận dụng khác nhau tùy thuộc quan niệm của mỗi quốc gia .Trong thực tế điều hành chính sách tài khóa, nhà nƣớc có thể quyết định tăng ,giảm thuế ,quy mô thu chi ngân sách nhằm tác động vào nguồn kinh tế .Tất cả những điều đó thể hiện vai trò quan trọng của NSNN với tƣ cách là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất ,hữu hiệu nhất là công cụ bù đắpnhững khiếm khuyết của thị trƣờng,đảm bão công bằng xã hội, bão vệ môi trƣờng sinh thái - Vốn đầu tƣ từ các doanh nghiệp : đây là nguồn vốn có sự phát triển và thay đổi khá mạnh khi nền kinh tế chuyển biến, các doanh nghiệp luôn là lực 7 z lƣợng đi đầu trong ứng dụng khoa học công nghệ ,nêu gƣơng về năng suất ,chất lƣợng hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật .Nên nguồn vốn xuất phát từ nó có vai trò hữu hiệu, hỗ trợ cho sự định hƣớng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bên cạnh các nguồn vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp trong nƣớc nƣớc Việt Nam nói chung và nền kinh tế Hà Tĩnh nói riêng thì cũng cần sự hỗ trợ vốn đầu tƣ từ các doanh nghiệp nƣớc ngoài bởi các yếu tố căn bản sau : Nếu nhƣ nguồn vốn trong nƣớc có tính chất quyết định thì vốn nƣớc ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bƣớc đi ban đầu tạo ra “cú hic” cho sự phát triển ,nó đƣợc thể nghiệm trên các vai trò cơ bản sau : + Bổ sung nguồn vốn cho đầu tƣ khi mà tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấp.Đối với các nƣớc nghèo và kém phát triển thì tổng số huy động vốn ở trong nƣớc chỉ đạt 50% tổng số vốn yêu cầu .Vì thế 50% còn lại phải đƣợc huy động từ bên ngoài .Đó là lý do chúng ta cần phải tích cực thu hút vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài + Đảm bão trình độ công nghệ cao ,phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới, giúp đẩy nhanh sự phát triển của các dịch vụ cung cấp có chất lƣợng và cho phép sản xuất các sản đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế + Là con đƣờng ngắn nhất đƣa nền kinh tế nƣớc ta hội nhập với các nƣớc trên thế giới và khu vực ,cũng nhƣ đảm bão các nghĩa vụ vay và trả nợ nhờ việc tăng cƣờng năng lực xuất khẩu + Có vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ. Chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế * Các điều kiện về mặt pháp lý nhằm tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp. 8 z - Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ,PGS,TS .Nguyễn Trƣơng Lạng, trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân cho rằng :, Việt Nam chúng ta cần tranh thủ học tập kinh nghiệm các nƣớc , đặc biệt trong việc ban hành pháp luật để học tập kinh nghiệm nhằm rút ngắn thời gian xây dựng ,áp dụng chính sách và quy định ở Việt Nam .Ngoài ra việc tổ chức quản lý bộ máy nhà nƣớc của tạo hình do DN đặc thù cũng cần đƣợc thực hiện nhằm đảm bão tính đồng bộ và khả thi của chính sách đề xuất.
- Ở các nƣớc phát triển loại hình DN này đƣợc ủng hộ thành lập ,phát triển và đào tạo những kết quả đáng kể về mục tiêu tài chính ,việc làm và bão vệ ,phát triển các giá trị văn hóa ,nhân đạo ,nhân văn cũng nhƣ môi trƣờng giá trị xã hội ,vì thế phải phát triển các hoạt động giao lƣu, học hỏi giữa các doanh nghiệp xã hội của Việt Nam với các doanh nghiệp các nƣớc thông qua việc thành lập hội của các DNXH nhằm phát triển và tranh thủ sự ủng hộ của các đối tác nƣớc ngoài một cách hiệu quả. - Để tạo điều kiện cho DN có thời gian tới hoạt động tốt hơn, Luật gia Vũ Xuân Tiền, Trƣởng ban Tƣ vấn và Phản biện chính sách Hội các nhà quản trị DN Việt Nam cho rằng: “Điều 10 dự thảo Luật DN sửa đổi chƣa hợp lý và thiếu tính khả thi khi quy định sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của DN để tái đầu tƣ nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trƣờng nhƣ đã đăng ký…bởi một khi đã quy định nhƣ vậy tức là bắt buộc DN phải luôn có lãi. Đó là điều không thể có trong thực tiễn. Nếu DN bị lỗ do khách quan hoặc “lỗ giả, lãi thật” thì tiêu chí này không còn ý nghĩa”.