CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Động lực lao động và công tác tạo động lực lao động cho người lao động 1. Động lực lao động Tại sao trong cùng một điều kiện làm việc như nhau mà có người làm việc hăng say, nhiệt tình, kết quả, hiệu quả công việc rất tốt; đồng thời cũng có những người thì ngược lại? Mỗi người đều có mục đích khác nhau khi làm việc, mục đích tạo ra động lực làm việc, động lực lại tác động và chi phối đến suy nghĩ, tinh thần và hành động của họ. Vì vây, muốn tinh thần và hành động của người lao động mang lại hiệu quả tốt thì phải nắm bắt được mục đích làm việc của họ và tác động đúng hướng vào mục đích đó.
Mỗi người khác nhau sẽ có mục đích, động lực khác nhau; động lực trong mỗi tình huống, hoàn cảnh cụ thể cũng khác nhau; mức độ thúc đẩy của động lực làm việc cũng sẽ khác nhau giữa mỗi người cũng như mỗi người cụ thể trong những tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Động lực làm việc khá trừu tượng và khó xác định. Động lực làm việc thường sẽ không được thể hiện ra mà sẽ bị che giấu bởi tâm lý cá nhân, quan điểm xã hội. Hơn nữa, động lực làm việc luôn biến đổi theo môi trường sống, biến đổi theo thời gian.
Con người lúc đói ăn thì động lực làm việc có thể chỉ cần đủ ăn, khi đủ ăn thì lại mong muốn có tích lũy và trở lên giàu có. Con người khi 20 tuổi, 30 tuổi làm việc với động lực khác với con người khi 50 tuổi, 60 tuổi. Vì vậy, muốn động lực lao động được thúc đẩy đúng cách, đạt hiệu quả thì phải xét đến từng thời gian, thời điểm cụ thể, môi trường, tình huống cụ thể đối với từng cá nhân người lao động. Muốn xác định chính xác và thúc đẩy đúng cách tới động lực làm việc của người lao động thì trước tiên phải hiểu rõ động lực lao động là gì.
Các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về động lực lao động: Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Văn Điềm: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.” Theo TS Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích 4 thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, cũng như của bản thân người lao động. Theo Nguyễn Hữu Lam: “Sự sẵn sàng, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thỏa mãn nhu cầu bản thân người lao động.” (Nguyễn Hữu Lam, 2007) Từ các khái niệm trên, có thể hiểu đơn giản, động lực lao động là các yếu tố thúc đẩy người lao động làm việc, làm việc hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, đồng thời từ đó đạt được mục tiêu của cá nhân người lao động.
Động lực lao động không phải vốn có mà nó được tạo ra từ nhiều yếu tố, cả phía cá nhân người lao động và cả phía tổ chức, chính vì động lực được hình thành từ nhiều yếu tố, chịu tác động từ nhiều yếu tố nên nó thường xuyên biến đổi, thay đổi khác nhau, có thể một người trong thời điểm này họ có động lực làm việc, nhưng chưa chắc thời điểm khác họ cũng có. Động lực lao động không phải là yếu tố duy nhất giúp người lao động hoàn thành công việc, người lao động có chuyên môn, trình độ, tay nghề thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Động lực lao động là công cụ để giúp người lao động làm việc hiệu quả hơn, phát huy tối đa được các khả năng về chuyên môn, trình độ, kinh nghiệm và tay nghề của họ, đồng thời tận dụng tốt hơn, hiệu quả hơn các nguồn lực của tổ chức để thực hiện công việc, từ đó sẽ dẫn tới tăng năng suất, hiệu quả công việc. Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, môi trường làm việc và nó được thể hiện ở chính thái độ của người lao động với công việc và với tổ chức đó.
Nó không chỉ chịu ảnh hưởng bởi bản thân người lao động mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi những hoạt động quản lý nhân sự trong một tổ chức. Trong doanh nghiệp, vai trò của các nhà quản trị là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Thông qua hệ thống các chính sách, các biện pháp, các nghệ thuật quản trị, người lãnh đạo, quản lý có thể kích thích động cơ làm việc của người lao động dựa vào việc tạo cho họ cơ hội làm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của họ, từ đó làm cho người lao động có động lực làm việc. Nhà quản trị trong doanh nghiệp muốn nhân viên của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích, đãi ngộ vật chất lẫn tinh thần cho người lao động, đồng thời tạo 5 mọi điều kiện cho họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Tạo động lực lao động Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Văn Điềm: “Tạo động lực cho người lao động là việc sử dụng các biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng.để hướng hành vi của người lao động theo một quỹ đạo nhất định. Hay nói cách khác, tạo động lực là các biện pháp, chính sách.tác động đến con người nhằm cho họ có động lực trong lao động.
Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc.” Như vậy, tạo động lực lao động chính là việc tổ chức sử dụng các biện pháp, các công cụ để tạo ra và kích thích động lực làm việc của người lao động, để người lao động làm việc tự nguyện, hăng say, nhiệt tình, tạo ra kết quả, hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực lao động ngoài việc tác động chính xác vào các nhu cầu, mục đích chưa được thỏa mãn của người lao động thì còn phải tạo ra được sự hấp dẫn trong công việc, sự hấp dẫn của các nhu cầu mới, mục tiêu mới để người lao động hướng tới nó và cố gắng cống hiến vì nó. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực làm việc cho người lao động là khai khác, sử dụng có hiệu quả nhất, phát huy được những tiềm năng của người lao động trong tổ chức. Khi người lao động có động lực lao động thì họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say, sử dụng hết khả năng của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của tổ chức sẽ được thực hiện với hiệu quả cao.
Vì có động lực lao động, trong quá trình làm việc, người lao động có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, đó chính là quá trình tự hoàn thiện trong công việc. Mục đích thứ hai của tạo động lực làm việc cho người lao động là tạo sự gắn bó, thu hút những người lao động giỏi về tổ chức. Bởi vì tạo động lực cho người lao động chính là làm cho người lao động được thoả mãn khi làm việc cho tổ chức, khiến cho họ gắn bó và trung thành với tổ chức. Sự gắn bó nhiệt tình của họ cùng với những biện pháp tạo động lực tốt sẽ làm tăng sức cuốn hút người giỏi đến với tổ chức, và điều đó càng góp phần tăng khả năng thành công của tổ chức.
Ý nghĩa của động lực làm việc cho người lao động và doanh nghiệp Dưới áp lực cạnh tranh, bên cạnh các nguồn lực về vốn, về kinh nghiệm, cơ sở 6 vật chất,. thì nguồn lực về con người là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển, bởi con người là trung tâm để thực hiện và sử dụng tất cả các nguồn lực khác một cách hiệu quả. Không một doanh nghiệp nào lại có thể coi thường hay bỏ qua công tác tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Việc tạo động lực cho người lao động sẽ mang lại lợi ích cho cả bản thân người lao động và doanh nghiệp.
- Đối với người lao động: Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn cả về hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người lao động cảm nhận những nhu cầu của mình có thể được đáp ứng khi hoàn thành tốt công việc, người lao động sẽ có trạng thái tâm lý thích làm việc hăng say hơn. Thực tế cho thấy người lao động chỉ làm việc tích cực, hăng hái tự nguyện khi mà họ được thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân, cụ thể hơn là các lợi ích mà họ được hưởng. Lợi ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người lao động nhận được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới làm cho người lao động nỗ lực vì công việc, mới tạo ra động lực cho nhân viên làm việc.
Động lực lao động ngoài việc làm thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho người lao động, nó còn giúp người lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có được động lực trong lao động, người lao động có được nỗ lực lớn hơn để học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Tạo động lực sẽ giúp người lao động làm việc hăng say hơn, làm tăng năng suất lao động và chất lượng công việc, tạo ra sự hứng thú với công việc từ đó các nhiệm vụ chung của đơn vị sẽ được giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả, năng suất lao động sẽ cao hơn, kích thích tính sáng tạo của người lao động và tăng sự gắn bó của người lao động với công việc, với tổ chức.