Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Phạm Thị Diệu Linh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, thuộc chuyên ngành Lưu trữ học (mã số: 62 32 03 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Dương Văn Khảm.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực tiễn những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn tranh chấp tại biển Đông diễn biến phức tạp, nhiều tài liệu lưu trữ trong nhân dân đã được công bố, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Thực tế này thúc đẩy các cơ quan lưu trữ nhà nước tiến hành sưu tầm nhằm bảo quản và khai thác. Tuy nhiên, các nhà lưu trữ và hoạch định chính sách gặp lúng túng do thiếu hụt nguồn lực và cơ chế pháp lý. Đồng thời, sự tham gia tự phát của nhiều thiết chế như bảo tàng, thư viện, nhà lưu niệm công và tư dẫn đến tình trạng chồng chéo, cạnh tranh sưu tầm đối với một số loại hình tài liệu, trong khi các loại hình khác lại bị bỏ rơi. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: các cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ tại Việt Nam vốn quen sử dụng công cụ luật pháp thuần túy mà chưa chú ý đến công cụ chính sách công; tính đến năm 2013, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về chính sách công áp dụng cho tài liệu lưu trữ nhân dân.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Làm rõ khái niệm và thuộc tính của tài liệu lưu trữ nhân dân, nội dung của chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân;
  2. Khẳng định sự cần thiết của chính sách và xác định vấn đề cần giải quyết trong chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân;
  3. Phân tích để xây dựng cấu trúc chính sách cơ bản về quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu chính: "Chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam như thế nào?" Giả thuyết nghiên cứu chính: "Chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam hiện nay chưa đồng bộ và thiếu khả thi."

Đối tượng nghiên cứu bao gồm: chính sách và pháp luật hiện hành về tài liệu lưu trữ nhân dân; hiện trạng lưu giữ tài liệu trong nhân dân; mối quan tâm và lợi ích của các nhóm đối tượng chính sách khác nhau. Khách thể nghiên cứu là công dân từ 22 tuổi trở lên, cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn văn thư - lưu trữ tại trung ương và địa phương, các cơ quan lưu trữ công và tư. Phạm vi thời gian khảo sát thực tế diễn ra từ năm 2013 đến năm 2016 (trong đó điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên sâu tập trung vào cuối năm 2015 và năm 2016). Phạm vi không gian khảo sát trải dài từ các cơ quan trung ương đến các địa phương từ Hà Giang đến Quảng Ngãi, tập trung thu thập phiếu công dân tại địa bàn Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến tài liệu lưu trữ nhân dân và chính sách công:

Về lý luận lưu trữ học quốc tế: Các nghiên cứu Anh ngữ và Liên bang Nga không dùng trực tiếp thuật ngữ "tài liệu lưu trữ nhân dân" nhưng phân chia đối tượng nghiên cứu theo các cặp phạm trù tương phản. Về giá trị bằng chứng, H. Jenkinson (1922) định nghĩa tài liệu lưu trữ gắn liền với các giao dịch điều hành và phân định tài liệu công với tài liệu tư. T. Schellenberg (1956, 1965) đặt nền móng cho lý thuyết xác định giá trị hiện đại, phân biệt tài liệu lưu trữ của chính quyền (archives) với di cảo lịch sử của tư nhân (manuscripts). Các học giả Canada như Laura Millar (1998) phân tích sự tiến triển của khái niệm "lưu trữ tổng thể" (total archives) nhằm bao quát việc thu thập tài liệu phi cơ quan (non-institutional archives). Sue McKemmish (1996, 2013) phát triển tiếp cận bằng chứng qua luận điểm "Evidence of Me..." và phối hợp cùng Michael Piggott đề xuất lý thuyết "đa nguyên lưu trữ" (archival pluralism). Các tác giả Catherine Hobbs (2001), Riva A. Pollard (2001), Faye Phillips (1984), Gary M. Peterson và Trudy H. Peterson (1985) nghiên cứu về đặc điểm bản sắc, chính sách sưu tầm và khung pháp lý đối với di cảo. Tại Liên bang Nga, V. Kozlov (2002) phát triển tiếp cận ý nghĩa, coi tài liệu có xuất xứ cá nhân là nguồn bổ sung quan trọng cho các kho lưu trữ. Tại Châu Á, Kim Ikhan, Chung Yeon-Kyoung, Kwak (Hàn Quốc) và Yuichi Aoki, Yo Hashimoto (Nhật Bản) nghiên cứu lưu trữ cộng đồng, lưu trữ đời thường và tài liệu làng xã nhằm mở rộng tính dân chủ trong kiến tạo ký ức xã hội. Khảo sát của Hội đồng Lưu trữ Quốc tế (ICA) và UNESCO (1984) trên 27 quốc gia chỉ ra 62% trường hợp tôn trọng nguyện vọng hoặc bản quyền của người hiến tặng, ký gửi tài liệu tư.

Về lưu trữ học Việt Nam: Trước năm 1975 tại miền Nam, Nguyễn Ứng Long và nhóm biên soạn Nha Văn khố Quốc gia (1972) biên dịch lý thuyết phương Tây trong cuốn "Cẩm - nang Văn - khố". Tại miền Bắc, Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Thâm (1990) xuất bản "Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ", xác lập khái niệm phông lưu trữ cá nhân. Năm 2012, Vương Đình Quyền định nghĩa tài liệu lưu trữ nhân dân gắn với cá nhân, gia đình, dòng họ, làng xã xưa có giá trị thực tiễn và lịch sử. Các công trình của Nguyễn Thị Chinh (2007), Hoàng Bá Thịnh (2007), Trần Văn Hải (2007), cùng các tác giả tham gia Hội thảo quốc tế năm 2012 đã làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội học và sở hữu trí tuệ của khối tài liệu này.

Về nghiên cứu chính sách công: Luận án điểm lại các công trình quản lý nhà nước của GS. Nguyễn Duy Gia (thập niên 1990); lý thuyết chính sách công của Văn Tất Thu (Học viện Hành chính Quốc gia); các nghiên cứu của Toru Hashimoto, Stefan Hell, Sang-Woo Nam (2005); các quan điểm quốc tế của J. Anderson, J. Dewey. Đặc biệt, luận án tiếp thu lý thuyết phân tích chính sách và khung mẫu (paradigma) chính sách của GS. Vũ Cao Đàm.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Nghiên cứu quản lý nhà nước về lưu trữ tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở việc diễn giải và phản biện các văn bản pháp luật, thiếu vắng nền tảng lý luận của khoa học chính sách và quản trị công. Luận án khắc phục khoảng trống này bằng việc ứng dụng khung lý thuyết chính sách công liên ngành, kết hợp nghiên cứu thực chứng nhằm thiết kế cấu trúc chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng từ sự kết hợp giữa Lưu trữ học và Khoa học chính sách:

  • Về lưu trữ học: Luận án kết hợp hai hướng tiếp cận giá trị gồm "tiếp cận bằng chứng" (evidence-based approach) kế thừa từ H. Jenkinson, T. Schellenberg, Sue McKemmish và "tiếp cận ý nghĩa" (meaning-based approach) của lưu trữ học Liên bang Nga và Việt Nam. Đồng thời, luận án tiếp thu quan điểm của quản lý công (Public Management), nhấn mạnh sự chuyển đổi từ vai trò nhà nước can thiệp trực tiếp sang vai trò điều phối vĩ mô, hỗ trợ và kiến tạo môi trường hoạt động cho các chủ thể xã hội.
  • Về khoa học chính sách: Luận án sử dụng mô hình khung mẫu chính sách (paradigma) của GS. Vũ Cao Đàm gồm 4 tầng bậc: Hệ khái niệm (các thuật ngữ được định nghĩa thống nhất), Hệ chuẩn mực (các quy định hành vi bắt buộc), Hệ quan điểm (tuyên bố ủng hộ hoặc nghiêm cấm) và Triết lý (mục đích, lý do cốt lõi của chính sách).
Tầng bậc Paradigma Nội dung cấu thành trong chính sách
Triết lý Lý do ban hành, mục đích nền tảng và tinh thần xuyên suốt của chính sách
Hệ quan điểm Tuyên bố định hướng của Nhà nước: ủng hộ, khuyến khích hoặc nghiêm cấm
Hệ chuẩn mực Quy định pháp lý bắt buộc các chủ thể phải tuân thủ trong hành vi thực tế
Hệ khái niệm Hệ thống định nghĩa khoa học được làm rõ và chuẩn hóa để áp dụng thống nhất

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Phát 500 phiếu khảo sát tới công dân từ 22 tuổi trở lên đang học tập, sinh sống tại Hà Nội, thu về hơn 330 phiếu hợp lệ; phát 50 phiếu khảo sát tới cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn tại Cục Văn thư - Lưu trữ Nhà nước cùng một số Chi cục Văn thư - Lưu trữ miền Bắc và miền Trung, thu về hơn 40 phiếu hợp lệ.
  • Phỏng vấn sâu và tọa đàm: Thực hiện với lãnh đạo, chuyên viên Cục Văn thư - Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, Thư viện Quốc gia Việt Nam, bảo tàng chuyên ngành và đại diện các gia đình lưu giữ tài liệu tiêu biểu.
  • Nghiên cứu trường hợp (Case study): Tiến hành điền dã, quan sát trực tiếp, chụp ảnh và xử lý tư liệu tại 3 trường hợp điển hình: (1) Lưu giữ tài liệu của gia đình họa sĩ Bùi Xuân Phái; (2) Hoạt động lưu trữ tư nhân tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam; (3) Lưu giữ tài liệu của các dòng họ tại tỉnh Thừa Thiên - Huế.
  • Phân tích, tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp so sánh thể chế, đối chiếu giữa quy định nhà nước với thực tiễn thực thi.

Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về lưu trữ, di sản văn hóa, sở hữu trí tuệ; số liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra xã hội học; biên bản ghi âm, sổ tay điền dã phỏng vấn sâu; tài liệu lưu trữ thực tế tại các cơ quan và tư gia khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu về lưu trữ học và chính sách công trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các tiêu chí đối xứng giữa lưu trữ công và lưu trữ tư trong lý luận thế giới:

Tiêu chí phân biệt Khái niệm thuộc khu vực công Khái niệm thuộc khu vực tư / nhân dân
Chủ thể sở hữu Tài liệu lưu trữ công (public archives) Tài liệu lưu trữ tư (private archives)
Nguồn gốc hình thành Tài liệu cơ quan (institutional archives) Tài liệu phi cơ quan (non-institutional archives)
Tính chất tổ chức Cơ quan nhà nước, đoàn thể công quyền Doanh nghiệp tư nhân, nhà thờ, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng

Chương 1 chỉ ra rằng các nghiên cứu tại Việt Nam đã nhận diện được giá trị lịch sử của tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ nhưng chưa đặt trong mối tương quan với các chủ thể cộng đồng kiểu mới. Hạn chế cốt lõi của các nghiên cứu quản lý nhà nước về lưu trữ trước đây là thiếu hụt khung lý luận về chính sách công và khoa học hành chính, dẫn đến việc các kiến nghị giải pháp thường mang tính dàn trải, tính khả thi không cao.

Chương 2. Cơ sở lý luận của chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam

Tác giả xác định nội hàm khái niệm "nhân dân" dựa trên từ điển học và các văn kiện chính trị (tiêu biểu là Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX). Cấu trúc của nhân dân được phân tích gồm hai mô hình: mô hình truyền thống (cá nhân, gia đình, dòng họ, làng xã cổ truyền) và mô hình hiện đại (các tổ chức tự nguyện, nhóm nghề nghiệp, mạng lưới xã hội mới như Mạng lưới người sống chung với HIV/AIDS, Cộng đồng người tự kỷ, các nhóm đồng đẳng, đồng bào các tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số).

Luận án phân tích sự bất cập của định nghĩa "tài liệu lưu trữ" trong Luật Lưu trữ năm 2011 khi áp dụng vào tài liệu lưu trữ nhân dân: luật nhấn mạnh yêu cầu phải là "bản gốc, bản chính, bản sao hợp pháp". Tuy nhiên, trong thực tiễn nhân dân:

  • Bản in chính thức của các nhà khoa học (như GS. Lê Mậu Hãn, PGS. Hoàng Văn Khoán) thường thay thế hoàn toàn cho bản thảo viết tay do tác giả không giữ lại bản thảo;
  • Các tác phẩm mỹ thuật (như tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái) chỉ tồn tại duy nhất một bản, vừa là bản gốc vừa là bản chính;
  • Tài liệu cổ trên chất liệu đặc thù (mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà tại Bắc Giang; tài liệu viết trên lá Buông của người Khmer ở An Giang, Kiên Giang) thì bản thân kỹ thuật chế tác đã cấu thành giá trị di sản, không thể áp dụng khái niệm sao chép pháp lý thông thường.

Từ đó, luận án làm rõ các thuộc tính cơ bản của tài liệu lưu trữ nhân dân gồm: tính đa dạng về hình thức và vật mang tin, tính phân tán về vị trí lưu giữ, tính phụ thuộc chặt chẽ vào quyền sở hữu tư nhân, và tính đan xen giữa giá trị văn hóa tinh thần với giá trị kinh tế. Chương này cũng thiết lập quy trình hoạch định chính sách công gồm các bước từ xác định vấn đề, thiết kế mục tiêu, xây dựng phương án giải pháp đến phân tích tác động.

Chương 3. Cơ sở pháp lý và thực tiễn của chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam

Chương 3 chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý và thực tiễn:

  • Khung pháp luật hiện hành: Luật Lưu trữ năm 2011 coi tài liệu của cá nhân, gia đình, dòng họ là đối tượng được khuyến khích đăng ký, hiến tặng hoặc ký gửi, nhưng thiếu cơ chế bảo đảm quyền lợi tài chính, quyền tiếp cận và bảo vệ bí mật thông tin của chủ sở hữu.
  • Dữ liệu khảo sát cán bộ quản lý (hơn 40 phiếu): Các nhà quản lý thừa nhận gặp khó khăn do thiếu kinh phí sưu tầm, kho tàng bảo quản không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, và thẩm quyền quản lý giữa cơ quan lưu trữ với các bảo tàng, thư viện chưa được phân định ranh giới rõ ràng.
  • Dữ liệu khảo sát công dân (hơn 330 phiếu): Khi được hỏi về việc chuyển giao tài liệu cho nhà nước, mối bận tâm hàng đầu của người dân là quyền sở hữu tác quyền, sự minh bạch trong việc phục vụ công chúng và sự tôn trọng đối với tài liệu gia đình. Nhu cầu lớn nhất của người dân là được cơ quan chuyên môn hỗ trợ kỹ thuật bảo quản tại chỗ hơn là bàn giao vĩnh viễn tài liệu cho nhà nước.
  • Thực trạng ngoài công lập: Khảo sát tại gia đình họa sĩ Bùi Xuân Phái cho thấy khó khăn trong việc chống xuống cấp vật lý của tranh và tư liệu giấy; Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam vận hành thành công mô hình thu thập tư nhân nhưng đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn; tài liệu dòng họ tại Thừa Thiên - Huế được bảo quản dựa vào ý thức tự giác và hương ước, tộc ước nhưng đối mặt với nguy cơ mối mọt, hỏa hoạn và thiên tai.

Chương 4. Cấu trúc chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam

Tác giả phân tích môi trường chính sách dựa trên định hướng phát triển văn hóa, giáo dục và ngành lưu trữ Việt Nam. Trên cơ sở mô hình paradigma, luận án đề xuất hai phương án chính sách độc lập:

Tiêu chí so sánh Phương án 1: Lưu trữ Nhà nước và Lưu trữ cộng đồng Phương án 2: Lưu trữ cộng đồng và điều phối Nhà nước
Triết lý chủ đạo Nhà nước giữ vai trò trung tâm; hỗ trợ kỹ thuật có kiểm soát để tích hợp tài liệu nhân dân vào hệ thống di sản quốc gia. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, điều phối vĩ mô; tôn trọng tối đa quyền tự chủ của cộng đồng và các thiết chế tư nhân.
Mục tiêu chính sách Bảo vệ an toàn các tài liệu quý hiếm thông qua việc mở rộng thẩm quyền thu thập của các lưu trữ quốc gia và địa phương. Thúc đẩy việc bảo quản tại chỗ; hình thành mạng lưới lưu trữ cộng đồng, lưu trữ tư nhân hoạt động độc lập và liên kết.
Giải pháp cốt lõi - Ban hành danh mục tài liệu nhân dân có giá trị đặc biệt bắt buộc đăng ký.
- Nhà nước cấp kinh phí hỗ trợ bảo quản cho các chủ sở hữu chấp nhận đăng ký.
- Ưu tiên hình thức mua lại hoặc nhận ký gửi dài hạn vào kho nhà nước.
- Hướng dẫn tiêu chuẩn nghiệp vụ và chuyển giao công nghệ bảo quản cho người dân.
- Áp dụng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho các trung tâm lưu trữ tư nhân.
- Tài trợ thông qua các quỹ phát triển văn hóa và dự án số hóa cộng đồng.
Dự kiến tác động - Tập trung được tài liệu quý vào các kho lưu trữ tiêu chuẩn của Nhà nước.
- Làm gia tăng gánh nặng ngân sách và kho tàng công; có thể phát sinh tâm lý e ngại giao nộp từ người dân.
- Giảm chi ngân sách nhà nước; huy động tối đa nguồn lực xã hội hóa.
- Nguy cơ phân tán tài liệu nếu năng lực quản trị của các cộng đồng không đồng đều.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và phân tích thuộc tính của tài liệu lưu trữ nhân dân từ hai chiều cạnh: tiếp cận bằng chứng và tiếp cận ý nghĩa, khẳng định tài liệu lưu trữ nhân dân không chỉ gồm tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ truyền thống mà bao hàm cả tài liệu của các cộng đồng mới hình thành, các nhóm xã hội đặc thù, đồng bào tôn giáo và dân tộc thiểu số.
  • Vận dụng thành công khung mẫu paradigma chính sách của GS. Vũ Cao Đàm vào lưu trữ học, thiết lập cấu trúc 4 tầng bậc (Hệ khái niệm, Hệ chuẩn mực, Hệ quan điểm, Triết lý) để phân tích và hoạch định chính sách lưu trữ.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp tập dữ liệu thực nghiệm về nhận thức, nhu cầu của công dân (hơn 330 mẫu) và cán bộ quản lý văn thư - lưu trữ (hơn 40 mẫu), phản ánh những khoảng cách giữa quy định hành chính với nguyện vọng thực tế của chủ sở hữu tài liệu.
  • Thiết kế hai phương án chính sách hoàn chỉnh ("Lưu trữ Nhà nước và Lưu trữ cộng đồng" cùng "Lưu trữ cộng đồng và điều phối Nhà nước") kèm theo mục tiêu, dự thảo giải pháp và dự báo tác động, cung cấp luận cứ khoa học để các cơ quan nhà nước tham khảo khi sửa đổi Luật Lưu trữ và xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn di sản tài liệu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo nội dung văn bản trình bày, luận án có những hạn chế nhất định:

  • Khách thể khảo sát xã hội học công dân mới tập trung thực hiện tại khu vực đô thị Hà Nội (500 phiếu phát ra, thu về hơn 330 phiếu hợp lệ), chưa mở rộng điều tra quy mô lớn ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.
  • Về quy trình chính sách, luận án mới dừng lại ở bước nhận diện vấn đề, thiết kế mục tiêu, dự thảo giải pháp và dự kiến tác động lý thuyết; chưa triển khai các giai đoạn tiếp theo như đo lường tác động thực tế (ex-post) sau khi ban hành và chưa xây dựng thành toàn văn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng phạm vi điều tra xã hội học ra nhiều vùng sinh thái văn hóa khác nhau; tiến hành thể chế hóa phương án chính sách được lựa chọn thành các điều khoản luật cụ thể trong các dự án luật sửa đổi.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bộ Nội vụ): Cung cấp căn cứ thực tiễn và khung chính sách để tham khảo trong quá trình hoàn thiện thể chế quản lý tài liệu lưu trữ tư và tài liệu lưu trữ nhân dân.
  • Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh ngành Lưu trữ học, Quản trị văn phòng, Quản lý công và Chính sách công: Cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành giữa lưu trữ học với khoa học chính sách, làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về quản lý tài liệu cá nhân và di sản cộng đồng.
  • Các bảo tàng, thư viện, trung tâm nghiên cứu và chủ sở hữu tư nhân: Tham khảo các phân tích về quyền tác giả, tính bảo mật đời tư và các mô hình quản lý tài liệu ngoài công lập (như mô hình của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam).

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "nhân dân" trong luận án được xác định bao gồm những chủ thể nào? Theo luận án, nhân dân là toàn thể công dân, người lao động dưới quyền lãnh đạo, quản lý. Về mặt cấu trúc xã hội, nhân dân gồm mô hình truyền thống (cá nhân, gia đình, dòng họ, làng xã) và mô hình hiện đại (các tổ chức tự nguyện, nhóm nghề nghiệp, cộng đồng mới như Mạng lưới người sống chung với HIV/AIDS, Cộng đồng người tự kỷ, các mạng lưới đồng đẳng, đồng bào tôn giáo và đồng bào dân tộc thiểu số).

2. Điểm bất cập của định nghĩa tài liệu lưu trữ trong Luật Lưu trữ 2011 đối với tài liệu nhân dân là gì? Luật Lưu trữ năm 2011 quy định tài liệu lưu trữ phải là "bản gốc, bản chính, trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì thay thế bằng bản sao hợp pháp". Quy định này không phù hợp với tài liệu nhân dân trong các trường hợp: bản in chính thức thay thế bản thảo của nhà khoa học; tác phẩm nghệ thuật độc bản không thể có bản sao tương đương; hoặc các chất liệu cổ truyền (mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà; tài liệu trên lá Buông của người Khmer) mà bản thân phương thức chế tác thủ công đã là yếu tố tạo nên giá trị di sản.

3. Khung mẫu (paradigma) chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân gồm những cấp độ nào? Ứng dụng lý thuyết của GS. Vũ Cao Đàm, luận án xác lập paradigma chính sách gồm 4 tầng từ thấp đến cao:

  • Hệ khái niệm: Định nghĩa thống nhất các thuật ngữ khoa học;
  • Hệ chuẩn mực: Các quy định pháp lý điều chỉnh hành vi bắt buộc;
  • Hệ quan điểm: Tuyên bố của Nhà nước về việc ủng hộ, khuyến khích hoặc nghiêm cấm;
  • Triết lý: Tầm tư tưởng, mục đích và lý do căn bản nhất của chính sách.

4. Dữ liệu khảo sát xã hội học của luận án được thực hiện với quy mô ra sao? Luận án tiến hành phát 500 phiếu khảo sát tới công dân từ 22 tuổi trở lên tại Hà Nội và thu về hơn 330 phiếu hợp lệ; phát 50 phiếu tới cán bộ quản lý và người làm công tác lưu trữ tại Cục Văn thư - Lưu trữ Nhà nước và một số Chi cục địa phương, thu về hơn 40 phiếu hợp lệ. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và khảo sát thực địa tại 3 trường hợp: gia đình họa sĩ Bùi Xuân Phái, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, và các dòng họ tại Thừa Thiên - Huế.

5. Luận án đề xuất những phương án chính sách nào để quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân? Luận án đề xuất hai phương án chính sách:

  • Phương án 1: "Lưu trữ Nhà nước và Lưu trữ cộng đồng", trong đó Nhà nước giữ vai trò trung tâm chỉ đạo, kiểm soát và thu thập các tài liệu quý hiếm vào kho lưu trữ nhà nước thông qua cơ chế hỗ trợ và mua lại;
  • Phương án 2: "Lưu trữ cộng đồng và điều phối Nhà nước", trong đó Nhà nước đóng vai trò điều phối vĩ mô, hỗ trợ kỹ thuật và ưu đãi tài chính, tạo điều kiện tối đa để các cộng đồng và khu vực tư nhân tự bảo quản và phát huy giá trị tài liệu tại chỗ.

Kết luận

Luận án "Chính sách quản lý tài liệu lưu trữ nhân dân ở Việt Nam" của tác giả Phạm Thị Diệu Linh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Lưu trữ học vận dụng lý thuyết chính sách công để giải quyết bài toán quản trị tài liệu ngoài khu vực nhà nước. Dựa trên việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, phân tích văn bản pháp lý và các dữ liệu điều tra xã hội học thực chứng, luận án đã làm rõ các thuộc tính đặc thù của tài liệu lưu trữ nhân dân. Tác giả đã thiết kế cấu trúc chính sách theo mô hình paradigma và đề xuất hai phương án chính sách cụ thể nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh vai trò quản lý của Nhà nước từ kiểm soát trực tiếp sang điều phối và hỗ trợ cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ hữu ích cho việc hoàn thiện hệ thống thể chế lưu trữ quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội hiện đại.