CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Chính sách công Để làm sáng tỏ khái niệm chính sách phát triển DL cần làm rõ khái niệm chính sách công. Bởi CS phát triển DL là một lĩnh vực của CS công. Khác với những ngành khoa học xã hội truyền thống, hoạt động nghiên cứu CS công định hướng đề ra những giải pháp cụ thể cho các vấn đề thực tế.
Thomas Dye (trích dẫn trong Michael Howlett/M.Ramesh, 1995) cho rằng “Chính sách công là bất kể những gì Chính phủ chọn làm hoặc chọn không làm”. Dunn (trích dẫn trong Michael Howlett/M.Ramesh, 1995) định nghĩa rằng "Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan NN hay các quan chức NN đề ra". Nguyễn Hữu Hải (2008) đã cho rằng "Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, thể hiện bằng nhiều hình thức, nhằm thúc đẩy xã hội (XH) phát triển", từ khái niệm này đã bao quát được các đặc trưng cơ bản của CS công, vừa thể hiện được bản chất của công cụ CS với tư cách là công cụ định hướng của NN. Văn Tất Thu (2017) cho rằng “Chính sách công là CS của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển KT-XH và phục vụ người dân.
Do đó CS công có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản trị quốc gia”. 13 Lê Văn Chiến và Bùi Phương Đình (2021) định nghĩa “Chính sách công là hành động của NN với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy XH phát triển”. Từ những phân tích trên, có thể hiểu "Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định". Đặc điểm, bản chất, vai trò của chính sách công Đặc điểm của chính sách công Tính đa ngành: vì là 1 công cụ quản lý của NN nên chính sách công có đặc điểm bao trùm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong XH như chính trị, KT – XH, văn hóa.
Tính giải quyết vấn đề thực tiễn: sáng kiến pháp luật đều xuất phát, bắt nguồn từ thực tiễn triển khai thực hiện CS công. Thực tiễn cho thấy chính sách công được thực hiện hiệu quả khi được thể chế hóa thành những nội dung, quy định cụ thể, áp dụng cụ thể. Từ CSC thể chế hóa thành các quy định của pháp luật và từ đó có thể cụ thể hóa thành các nguyên tắc, yêu cầu trong xây dựng CS công. Tính quy phạm, giá trị và chuẩn tắc: Hoạch định, xây dựng chính sách công phải tuân thủ nguyên tắc quản lý bắt buộc hay nguyên tắc pháp lý của chính sách.
Tôn trọng nguyên tắc này là để bảo đảm việc thực hiện CS công đạt được mục tiêu đặt ra, cũng chính là mục tiêu quản lý của NN. Mặt khác chính sách công là chính sách của NN, việc thực hiện CS là bắt buộc đối với đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh cũng như đối với toàn thể nhân dân. Do đó, trong nội dung, nội hàm của chính sách công cần phải xác định các hình thức, mức độ chế tài hợp lý để bảo đảm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả CS. Bản chất của chính sách công Văn Tất Thu (2017) cho rằng: “Chính sách công là CS của NN đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó NN tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính 14 trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân.
Nhà nước dựa trên nền tảng nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân ban hành chính sách công”. Vai trò của chính sách công Là công cụ hữu hiệu chủ yếu để NN thực thi chức năng, nhiệm vụ, duy trì sự tồn tại và phát triển của NN, phát triển KT-XH và phục vụ người dân. Định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động KT - XH; tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động KT - XH theo mục tiêu chung nhằm phát huy mặt tích cực, mặt khác khắc phục những hạn chế của nền KT thị trường. Du lịch Tại hội nghị lần thứ 27 năm 1993 của Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO (trích dẫn trong Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông, Vũ Đình Hòa, 2014, 6) đã đưa ra định nghĩa “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, với thời gian liên tục ít hơn một năm”.
Nhà địa lí người Belarus, I. Pirojnik (trích dẫn trong Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông, Vũ Đình Hòa, 2014, 6) chỉ ra rằng “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi, liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa”. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Phát triển du lịch là việc tổ chức cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, các điều kiện thủ tục hành chính để đáp ứng khách du lịch, là cơ hội để bán các sản phẩm của 15 địa phương, tăng nguồn thu ngân sách, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương.
Có thể thấy rằng các quan niệm về du lịch được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, các định nghĩa về du lịch đều đề cập đến các khía cạnh khác nhau nhưng qua quá trình phát triển của XH, các định nghĩa này dần được hoàn thiện và nhìn chung đó là các hoạt động vui chơi giải trí,.nghỉ dưỡng, tham quan ở ngoài nơi đang cư trú trong một thời điểm nhất định nhằm khôi phục tinh thần và thể chất. Sản phẩm du lịch Mỗi thể loại du lịch tuy có những đặc trưng riêng, nhưng trong thực tế thường không thể hiện nguyên một dạng mà có thể kết hợp một vài thể loại du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi. Ví dụ du lịch nghỉ ngơi với du lịch văn hoá, học tập; du lịch giải trí nghỉ ngơi với thăm hỏi… Căn cứ phạm vi lãnh thổ Các tác giả McIntosh và Goldner (1995) đã chia thành thể loại DL quốc tế và DL trong nước, trong đó: Du lịch quốc tế liên quan các chuyến đi ngoài phạm vi lãnh thổ biên giới quốc gia của khách du lịch. Du lịch trong nước là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ, bao gồm du lịch nội địa và du lịch quốc gia.
Các cách phân loại khác Căn cứ vào mục đích chuyến đi của du khách đối với nơi đến du lịch bao gồm: Du lịch thám hiểm,,Du lịch thượng lưu, Du lịch khác thường, Du lịch đại chúng. Căn cứ vào đặc điểm địa lý của nơi đến du lịch bao gồm du lịch biển, du lịch núi, du lịch tỉnh (đô thị), du lịch nông thôn (đồng quê, trang trại, miệt vườn). Căn cứ vào phương tiện giao thông bao gồm du lịch xe đạp, các phương tiện thô sơ (xích lô, xe ngựa, lạc đà), du lịch xe máy, du lịch ô tô (ô tô du lịch hoặc xe buýt 16 đường dài), du lịch tàu hoả, du lịch tàu thuỷ (bao gồm cả thuyền, ca nô), du lịch máy bay (bao gồm cả tàu lượn, trực thăng, khinh khí cầu). Đối với loại hình này du khách có thể có nhu cầu về dịch vụ chuyên chở hoặc dịch vụ thuê phương tiện vận chuyển.
Một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch 1. Các nguyên tắc phát triển du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) chỉ ra 5 nguyên tắc phát triển DL: Một là, phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, chiến lược có trọng tâm, trọng điểm. Hai là, gắn phát triển du lịch với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng. Ba là, bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
Bốn là, bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách DL, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. Năm là, phát triển đồng thời DL nội địa và DL quốc tế; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch. Phát triển du lịch cần hướng tới đảm bảo 03 mục tiêu sau đây : Bền vững về tài nguyên và môi trường: Một là, sử dụng hợp lý các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường, khai thác, sử dụng tài nguyên DL cho phát triển cần được quản lý. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu để đảm bảo nhu cầu phát triển DL của nhiều thế hệ.
Hai là, hạn chế việc sử dụng tài nguyên quá nhiều, giảm thiểu lượng chất thải ra ngoài môi trường để phòng ngừa việc suy thoái của môi trường, làm cho du lịch và kinh tế xã hội không còn phát triển bền vững. 17 Ba là, gắn liền với bảo tồn tính đa dạng để tạo nên sự hấp dẫn, thu hút của du lịch. Tăng cường tính đa dạng thiên nhiên, VH-XH, quan tâm việc sản xuất các mặt hàng, sản phẩm đặc trưng truyền thống, tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa từ các nguồn thu của du lịch, ngoài ra còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.