CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa > Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia trên thé giới Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hay SMEs (Small and Medium enterprises) nói chung là những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nảo đó. Từ viết tắt SMEs được dùng phô biến ở Cộng đồng các nước Châu Âu và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (World Bank), Liên Hiệp Quốc (United Nation), Tổ chức thương mại thé giới (WTO).
SMEs được sử dụng nhiều nhất là ở Mỹ. Các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu truyền thống có cách định nghĩa về SMEs của riêng họ, ví dụ như ở Đức, SMEs được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bi là 100 người. Nhưng cho đến nay Liên minh Châu Âu (EU) đã có khái niệm về SMEs chuẩn hóa hơn. Những doanh nghiệp có dưới 50 lao động được gọi là doanh nghiệp nhỏ còn những doanh nghiệp có trên 250 lao động được gọi là những doanh nghiệp vừa.
Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có số lao động dưới 100 người được gọi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 người là doanh nghiệp vừa. Trong hầu hết các nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ chiếm đa số. Ở EU, DNNVV chiếm khoảng 99% và số lao động lên đến 65 triệu người. Trong một số khu vực kinh tế, DNNVV giữ vai trò chủ đạo trong công cuộc cải tạo và là động lực phát triển của nền kinh tế.
Trên phạm vi thế giới, DNNVV chiếm 99% tổng số doanh nghiệp và đóng góp 40% - 50% tổng thu nhập quốc dân (GDP). Ở Mỹ, cách định nghĩa về DNNVV có ý nghĩa rộng hơn ý nghĩa nội tại của DNNVV. Và ở các quốc gia Châu Phi họ cũng có cách định nghĩa riêng và các định nghĩa này là khác nhau ở các quốc gia. EU thì dùng định nghĩa về DNNVV chuẩn như trên.
Sự khác nhau về định nghĩa khiến cho việc nghiên cứu về DNNVV trở nên khó khăn hơn. > Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Dé xác định DNNVV, các quôc gia căn cứ vào các tiêu chuân khác nhau như sô lao động, vôn sản xuât, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng. Ở mỗi quôc gia khác nhau, tiêu chi dé phân biệt DNNVV cũng khác nhau. Ở nước ta, tiêu chí xác định DNNVV được dựa trên điều kiện thực tiễn của Việt Nam (là một nước có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, năng lực quản lý còn hạn chế, thị trường chưa phát triển, chưa có chuan mực đo quy mô doanh nghiệp một cách chính thức) và khung khổ pháp luật hiện hành nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp này phát trién phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Theo đó, việc phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam chủ yếu dựa vào hai tiêu chí là lao động bình quân và vốn đăng ký, vì tất cả các doanh nghiệp đều có số liệu về hai tiêu thức này, có thể xác định tiêu thức này ở mọi cấp độ: toàn bộ nền kinh té, nganh, doanh nghiệp và trong điều kiện thực trạng thong kê về các doanh nghiệp còn chưa đầy đủ của Việt Nam thì hai tiêu chí này ta có thể xác định chính xác tri sô của chúng. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện trong nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 — 06 - 2009 của Chính Phu. Tại điều 3 của nghị định này đã quy định cụ thê về doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng kỷ kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thé như sau [8]: Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ (người) vốn (tỷ (người) (người) (người) đồng) Trên 10 đến | Trên 20 đến | Trên 200 đến I. Nông, lâm dưới 200 dưới 100 dưới 300 nghiệp và thủy sản Trên 10 đến | Trên 20 đến | Trên 200 đến II.
Công nghiệp và dưới 200 dưới 100 dưới 300 xây dựng Trên 10 đến | Trên 10 đến | Trên 50 đến II. Thương mại va dưới 50 dưới 50 dưới 100 dịch vụ 1. Đặc diém của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở nước ta, các DNNVV đã trải qua một quá trình phát triển gắn với quá trình đổi mới nền kinh tế. Trong thời gian qua, Chính phủ đã tiến hành nhiều đổi mới dé cải thiện môi trường đầu tư, trợ giúp DNNVV phát triển.
Đặc điểm chung của các DNNVV, nhất là trong giai đoạn mới hình thành và phát triển là còn thiếu tiềm lực về von, công nghệ, kỹ năng quản lý non kém, khả năng cạnh tranh trên thị trường hạn chế. Sau một thời gian phát triển, DNNVV đã có sự phát triển đáng kế về mặt số lượng và tỷ trọng so với toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Những đặc điểm của DNNVVở Việt Nam được thê hiện như sau: > Tính chất hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gân với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thê là: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vệ tinh, chế biến bộ phận chỉ tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vân và hỗ trợ. Trực tiệp tham gia chê biên các sản phâm cho người tiêu dùng cuôi cùng với tư cách là nhà sản xuât toàn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyền hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
> Về vốn DNNVV có nguồn vốn nhỏ, thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân, việc khởi sự kinh doanh và mở rộng quy mô đầu tư, đôi mới công nghệ, thiết bị được thực hiện chủ yếu bằng một phần vốn tự có và tín dụng khác như vay, mượn bạn bè, người thân hay từ các tô chức tài chính khác trong xã hội. DNNVV thường hướng vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, thị trường tiêu thụ lớn, nên huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ấn trong dân. DNNVV có vốn đầu tư ban dau ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Với quy mô vừa và nhỏ các doanh nghiệp này rất linh hoạt, dé thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điều kiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, cơ khí và bán cơ khí dé sản xuất ra những san phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tang lớp dân cư có thu nhập khác nhau.
Dễ khởi nghiệp, phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, thông thường để thành lập một doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần vốn đầu tư ban đầu không lớn, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải. Đặc điểm này làm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề, tạo điều kiện cho nền kinh tế khai thác mọi tiềm năng, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn. > Về năng lực cạnh tranh Năng lực kinh doanh còn hạn chế do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư để nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiễn, hiện đại. Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp, tính cạnh tranh trên thị trường kém.
DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường. Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh nghiệp mới hình thành, công tác tiếp thị còn kém hiệu quả và cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường phục vụ cho nhu cầu của địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV.
> Về lao động Phần lớn các DNNVV sử dụng nhiều lao động giản đơn, quy mô lao động nhỏ, trình độ tay nghề chưa cao, đa số là sử dụng lao động hộ gia đình, thuê và tuyển dụng ở các tỉnh. Lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn. Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế. Đội ngũ quản lý còn thiếu trình độ, kỹ năng quản lý, sử dụng kinh nghiệm là chủ yếu, chưa có chuyên môn.
Tuy Việt Nam có lực lượng lao động déi dao, trình độ học van tương đối cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, năng suất lao động không cao. Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ 10 năng quản tri kinh doanh. Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút những nha quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thé trả lương cao và có các chính sách đãi ngộ hấp dẫn đề thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như những người lao động giỏi.