CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, đưa nông thôn tiến lên văn minh hiện đại. Là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Nam và các quốc gia đang phát triển khác phải đối mặt với nhiều thách thức. Nông sản cuả Việt Nam bị cạnh tranh khốc liệt, hàm lượng khoa học và công nghệ kết tinh trong hàng hóa nông sản của chúng ta vốn đã chưa cao lại phải chịu sự canh tranh khốc liệt.
Trước tình hình đó, nhiệm vụ các địa phương cần những giải pháp để khắc phục khó khăn, thách thức của hội nhập, trong đó có những giải pháp về khoa học và công nghệ. Đặc biệt, các tỉnh đều coi trọng việc đầu tư phát triển công nghệ cơ điện nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Thông qua việc phát triển công nghệ mới sẽ giúp địa phương chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hóa, sử dụng đất và tài nguyên trong nông nghiệp một cách có hiệu quả, bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn, tăng năng suất lao động, giải phóng được sức lao động nặng nhọc cho bà con nông dân, tăng thu nhập cho bà con nông dân, xóa dần khoảng cáh giữa các địa phương trong một tỉnh, giữa miền núi và đồng bằng. Vì vây, trước khi đi vào nghiên cứu chính sách phát triển công nghệ cơ điện trong nông nghiệp (hay còn gọi là cơ điện nông nghiệp) cần thiết phải đề cấp đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về công nghệ Ngày nay, cụm từ “Công nghệ” đã trở nên phổ biên như công nghệ chế biến, công nghệ nano, công nghệ vũ trụ .v… nó rất gần gũi với các hoạt động của con người.
Nhưng đề hiểu được nó cần một quá trình tư duy về nó. Thuật ngữ công nghệ xuất phát từ tiếng Hy Lạp “techne” có nghĩa là một nghệ thuật hay kỹ năng, và “logia” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi xem xét công nghệ với tư cách là sản phẩm có thể trao đổi, mua bán, một thành tố quyết định của thị trường công nghệ. Trong báo cáo của Ban Chính sách Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ tại Hội nghị Khoa học năm 2002 đã nêu ra một số khái niệm về công nghệ như sau: Định nghĩa 1: Theo tác giả F.
Root, "công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới". Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới. Định nghĩa 2: do tác giả R. Jones (1970) đưa ra, cho rằng "công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa".
Như vậy về bản chất, công nghệ là cách thức (cũng là kiến thức); và mục tiêu sử dụng công nghệ là để chuyển hóa nguồn lực thành hàng hóa. Định nghĩa 3: "Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh". Đây là định nghĩa của tác giả J. Baranson (1976), theo đó, bản chất của công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm.
Định nghĩa 4: "Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và marketing những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới" theo J. Trong định nghĩa này công nghệ về bản chất cũng là kiến thức và có mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và đưa được sản phẩm ra thị trường. Định nghĩa 5: Theo E. Graham (1988) "Công nghệ là kiến thức không cầm nắm được, không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ".
Như vậy với định nghĩa này công nghệ cũng có bản chất là kiến thức và mục tiêu là để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định nghĩa 6: Tác giả P. (1986) cho rằng "Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp". Công nghệ là kiến thức (có sẵn trong óc con người, không phải hàng hóa).
Theo đây bản chất của công nghệ là kiến thức khoa học; và mục tiêu là để áp dụng vào công nghiệp. Định nghĩa 7: nhằm mục đích tiêu chuẩn hoá công tác thống kê về cán cân thanh toán công nghệ (TBP), OECD(1990) định nghĩa ‘công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và qui tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định.” Công nghệ trong định nghĩa này được hiểu là tập hợp các hành động và qui tắc lựa chọn và có mục đích là đạt được một kết quả mong muốn. Định nghĩa 8: Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra định nghĩa "công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ". Như vậy công nghệ có bản chất là kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp; Mục tiêu là để sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và cung cấp dịch vụ.
Định nghĩa 9: Ngân hàng thế giới (1985) định nghĩa "công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: thông tin về phương pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao". Theo định nghĩa này thì công nghệ là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và mục tiêu: để chuyển hóa nguồn vào thành sản phẩm. Định nghĩa 10: "công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa và được thể hiện ở một trong những dạng sau: tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư; nhân lực, thông thường là có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được bộ máy giải quyết vấn đề và xử lý thông tin; thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được tung ra thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền". Định nghĩa này của UNCTAD (1972) cho thấy, về bản chất là đầu vào cho sản xuất ở dạng tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin; và có mục tiêu là mang lại giá trị từ sản xuất.
Định nghĩa 11: Tác giả Sharif (1986) cho rằng "công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa’. Tác giả này còn coi công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm trung gian hoàn chỉnh); dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm); dạng tài liệu (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp. được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu v. ); và dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp.
Theo tổ chức ESCAP (Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương) thì Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu thông tin. Tuy nhiên, khái niệm này chưa thật đầy đủ và nó không phản ánh hết những thuộc tính của công nghệ. Vì lý do này mà ESCAP có mở rộng thêm “Công nghệ gồm tất cả các kỹ năng , kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin …” Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể , mà mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý. Do vậy, định nghĩa này được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ.
Ở nước ta, trong những năm gần đây khái niệm công nghệ đã được Luật “Khoa học và Công nghệ” năm 2000 định nghĩa một cách cô đọng như sau: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Luật “Chuyển giao Công nghệ” năm 2006 công nghệ được định nghĩa như sau: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Với định nghĩa về công nghệ như trên có thể hiểu công nghệ một cách đơn giản là sự hiểu biết cách làm một việc gì đó. Công nghệ tồn tại trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội.
Mối người dưới một góc độ khác nhau, ở một vị trí khác nhau có thể nhìn nhận công nghệ dưới những khía cạnh khác nhau. Về nội dung công nghệ: Theo quan điểm của Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á-Thái bình Dương (APCTT) thì bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản đến đâu cũng bao gồm 4 thành tố có tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra biến đổi mong muốn: - Công nghệ hàm chứa trong các vật thể (Technoware-T) bao gồm mọi phương tiện vật chất như các công cụ, trang bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng. Có thể gọi dạng hàm chứa này là phương tiện kỹ thuật.