CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU Trong chương này, các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án được sắp xếp và phân tích theo 2 nhóm chính là: (1) Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại và chính sách với ASEAN của Nhật Bản, đây là nội dung gắn trực tiếp tới chủ đề của luận án; (2) Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN và một số quốc gia thành viên ASEAN. Việc tìm hiểu các công trình thuộc nhóm này là cần thiết bởi quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN và các nước thành viên sẽ là môi trường, là sự định hướng và tạo điều kiện phát triển chính sách ngoại giao của Nhật Bản với ASEAN. Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại và chính sách với ASEAN của Nhật Bản 1. Nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản 1.
Công trình của học giả Nhật Bản Trong số nghiên cứu của các học giả Nhật Bản về chính sách đối ngoại của nước này, cuốn sách Ngoại giao Nhật Bản - Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa (dịch giả Lê Thị Bính và Nguyễn Đức Minh, Nhà xuất bản Trí Thức) của tác giả Irie Akira (2012) có thể coi là một công trình tiêu biểu, thể hiện những nhận định độc đáo về nền ngoại giao Nhật Bản. Đây là kết quả từ một quá trình nghiên cứu lâu dài của Tiến sĩ Irie về lịch sử ngành ngoại giao Nhật Bản, đặt trong bối cảnh tình hình thế giới đang biến đổi không ngừng trong hơn nửa thế kỷ qua. Với bề dày kiến thức về ngoại giao thế giới, tác giả đã đi sâu so sánh, phân tích vai trò của Nhật Bản trên bàn cờ chính trị - ngoại giao thế giới, đặc biệt là mối quan hệ lịch sử của Nhật Bản với các nước châu Á. Cuốn sách giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về nền ngoại giao đất nước mặt trời mọc không chỉ từ khía cạnh an ninh - chính trị mà cả về kinh tế và tư tưởng, nhất là vai trò quan trọng của ngoại giao trong giao lưu văn hóa quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới vì mục tiêu chung - nền hòa bình của nhân loại.
Công trình Koizumi and Japanese Politics (Koizumi và chính trị Nhật Bản, dịch giả Carl Freire, Nhà xuất bản Routledge) của tác giả Uchiyama Yu (2011) cung cấp một cái nhìn cụ thể về chính quyền của Thủ tướng Koizumi, gồm các vấn đề như đặc trưng 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phong cách chính trị, chính sách đối nội và đối ngoại, vai trò mà chính quyền Koizumi đã đóng góp đối với lịch sử chính trường Nhật Bản. Koizumi Junichiro giữ chức Thủ tướng Nhật Bản trong vòng 5 năm 4 tháng, từ ngày 26-4-2001 đến 26-9-2006, đứng thứ ba trong số các vị thủ tướng có thời gian cầm quyền kéo dài sau Chiến tranh Lạnh, sau Thủ tướng Sato Eisaku và Yoshida Shigeru. Tác giả Yu Uchiyama đã xem xét quá trình hoạch định chính sách, hoạt động của các tổ chức được thành lập giai đoạn này như Hội đồng Chính sách Kinh tế và Tài chính, chiến lược chủ nghĩa dân túy của Koizumi, chính sách đối ngoại… để đánh giá ý nghĩa lịch sử và tìm ra cơ sở cho sự ủng hộ rộng rãi của công chúng đối với chính quyền này. Cuốn sách cũng khái lược đưa ra những nhận định về công lao và hạn chế của chính quyền Koizumi, đồng thời so sánh với chính quyền Abe và Fukuda sau này.
Cuốn sách Japan’s Foreign Policy in Transition: The Way Forward for Japan as an International Actor in a World in Flux (Chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong quá trình chuyển đổi - Cách thức hướng về Nhật Bản như là một vai diễn quốc tế trong dòng chảy thế giới) là tập hợp của 5 bài viết của các học giả khác nhau trình bày tại hội thảo cùng tên do Viện Chính sách An ninh và Phát triển đặt tại Stockholm-Nacka, Thụy Điển tổ chức vào 11/2/2011. Sách được biên tập bởi Bert Edström, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện chính sách An ninh và phát triển Stockholm-Nacka, Thụy Điển. Cuốn sách là tập hợp của 5 bài viết: 1) “Học thuyết Yoshida” của Bert Edström; 2) “Trung Quốc và Hoa Kỳ là "Các giải pháp thay thế" trong Ngoại giao của Đảng Dân chủ Nhật Bản” của Guibourg Delamotte; 3) “Nhật Bản và Trung Quốc: Tính phức tạp của sự phụ thuộc” của Reinhard Drifte; 4) “Dự án ODA và Sáng kiến vì Hòa bình của Nhật Bản” của Marie Söderberg và 5) “Phải chăng Mô hình của Nhật Bản đang mất dần?” của tác giả Kazuki Iwanaga. Đặc biệt trong bài viết “Phải chăng Mô hình của Nhật Bản đang mất dần?”, học giả Kazuki Iwanaga đã nhận xét “Nhật Bản đã không thể, hoặc thậm chí chưa sẵn sàng đóng vai trò lớn trong khu vực và toàn cầu tương xứng với tiềm năng của mình.
Nhật Bản là một nước có vai trò còn hạn chế trong nền chính trị quốc tế.” [Bert Edström, 2011, tr. Với quan điểm cho rằng “Nhật Bản vẫn sẽ tiếp tục là đối tác cấp dưới của Hoa Kỳ và là một diễn viên tương đối nhỏ trong vũ đài ngoại giao toàn cầu” [Bert Edström, 2011, tr.65], tác giả đồng thời cũng chỉ ra hai nguyên nhân cơ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản hạn chế vai trò chính trị của Nhật Bản, đó là: Thứ nhất, Nhật Bản đã và đang phải trải qua một giai đoạn "thâm hụt” trong các thế hệ lãnh đạo chính trị, khi mà chỉ trong vòng 20 năm qua Nhật Bản đã có không ít hơn 14 Thủ tướng lãnh đạo, trong đó có nhiều người bị đánh giá là “yếu kém”. Không có sự ổn định lãnh đạo chính trị, Nhật Bản sẽ không thể tạo ra một tầm nhìn chiến lược. Mỗi tân Thủ tướng Nhật tuyên bố rằng thời gian để cải cách đã đến, nhưng các đề xuất về cải cách thường bị chìm đắm trong một nền chính trị rối loạn.
Với sự lãnh đạo của nhiều đời thủ tướng khác nhau, các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản không có sự gắn kết trung tâm. Kết quả là, khó có chính sách nào có thể được so sánh như một học thuyết mới hoặc chiến lược lớn. Thứ hai, là vấn đề Ổn định hiến pháp. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với việc tái cơ cấu chính sách đối ngoại của Nhật Bản là Điều 9 của Hiến pháp, đặc biệt là điều khoản "từ bỏ chiến tranh", cấm Nhật Bản duy trì "lực lượng mặt đất, trên biển và không quân" và cấm việc sử dụng vũ lực để "giải quyết tranh chấp quốc tế ".
Một khi chưa giải quyết được những vấn đề này, Nhật Bản vẫn sẽ còn loay hoay trong mục tiêu khẳng định vị thế chính trị quốc tế của mình. Tác giả Hidetaka Yoshimatsu (2010) trong bài viết “The Mekong region, regional intergration, and political rivalry among ASEAN, China and Japan” (Khu vực Mekong, hội nhập tiểu vùng và cạnh tranh chính trị giữa ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản), đăng trên Tạp chí Triển vọng ASIAN, Vol.34, số 3, 2010, trang 71-111, đã chỉ ra rằng, mặc dù ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản thừa nhận sự phát triển của khu vực Mekong là cần thiết trong mục tiêu thúc đẩy hội nhập khu vực Đông Á, song cách tiếp cận của các chủ thể trên đối với vấn đề này lại rất đa dạng. Trong khi ASEAN đã quan tâm đến sự phát triển của Mekong từ giữa những năm 1990, thì Chính phủ Trung Quốc lại xác định mối liên kết chặt chẽ với khu vực Mekong là chìa khóa để thúc đẩy các liên kết chính trị, kinh tế cũng như để duy trì sự phát triển của các quốc gia khu vực phía Nam. Về phía Nhật Bản, chính sách Mekong của cường quốc này cũng đã chuyển dần từ phát triển kinh tế sang trọng tâm địa chính trị.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, Đông Á phụ thuộc nhiều vào việc hội nhập thành công của các nước Mekong (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam, CLMV) - các nước chậm phát triển nhất ở Đông Á, với những quốc gia còn lại trong khu vực. Trong bức tranh toàn cảnh hội nhập, 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả đã đề cập đến các lợi ích được gắn liền với những cam kết của ba chủ thể là ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản đối với sự phát triển của khu vực Mekong, đồng thời xem xét những chiến lược hợp lý của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu hội nhập khu vực ở Đông Á. Ngoài các nghiên cứu trên, tác giả luận án cũng tham khảo một số công trình của các học giả Nhật Bản liên quan đến khu vực Đông Á, tiêu biểu là cuốn 日・中・韓の ナショナリズム―東アジア共同体への道 (Chủ nghĩa dân tộc của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc - Con đường đến với Cộng đồng Đông Á, Nhà xuất bản Daisan bunmei) của tác giả Matsumoto Kenichi (松本 健一, 2006). Cuốn sách tập trung phân tích về chủ nghĩa dân tộc thể hiện qua chính sách đối ngoại của ba nước Đông Á, đặc biệt tập trung phân tích các vấn đề hậu quả chiến tranh, tranh chấp lãnh thổ.
từ đó đưa ra kiến giải về con đường đi tới hòa giải và hợp tác. Công trình 東アジア共同体―経済統合のゆくえと日本 (Cộng đồng Đông Á - Tương lai của hội nhập kinh tế và Nhật Bản, Nhà xuất bản Iwanami) của tác giả Taniguchi Makoto (谷口 誠, 2004) lại phân tích vai trò của Cộng đồng Đông Á gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN như một trong ba cực của kinh tế thế giới (bên cạnh Mỹ và EU). Những kinh nghiệm làm việc trong Bộ Ngoại giao và thời gian làm Đại sứ Nhật Bản tại Liên hiệp quốc, đại diện Nhật Bản tại OECD, tác giả cuốn sách đã chỉ ra vai trò và sứ mệnh của Nhật Bản đối với các nước trong khu vực. Từ cách tiếp cận tổng thể và góc nhìn quốc gia, các nghiên cứu trên nhấn mạnh mối quan hệ giữa ba cường quốc ĐBA trong tương quan hợp tác khu vực, từ đó đề xuất hướng phát triển của Nhật Bản trong tiến trình liên kết khu vực Đông Á.
Công trình của học giả nước ngoài (trừ Nhật Bản) Tác giả A. Pooley (2011) trong cuốn Japan’s Foreign Policies (Chính sách ngoại giao của Nhật Bản, Nhà xuất bản Routledge, USA) đã cung cấp cho độc giả những thông tin hữu ích về chính sách ngoại giao của Nhật Bản qua các thời kỳ cụ thể. Từ sau chiến tranh Thế giới thứ II, bắt đầu với Học thuyết Yoshida, Nhật Bản đã tiến hành chính sách ngoại giao tương đối khôn khéo và thận trọng. Cùng với những thành công về kinh tế, chính sách đối ngoại đã góp phần đáng kể nâng cao vị thế của Nhật Bản trong khu vực.