Chương 1: Khái quát về khu vực biên giới Tâ Nam dưới triều Minh Mệnh Chương 2: Chính sách an ninh - quốc phòng Chương 3: Chính sách chính trị - kinh tế - xã hội 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơn : KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC BIÊN GIỚI TÂY NAM DƢỚI TRIỀU MINH MỆNH 1. B i ảnh ị h sử Năm 1802 sau hi đánh bại nhà Tâ Sơn Ngu n Ánh lên ngôi lấ niên hiệu là Gia ong thiết lập vương triều Ngu n. Th a hưởng thành quả của phong trào Tâ Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước vương triều Ngu n cai quản một phạm vi lãnh thổ rộng lớn hoàn chỉnh t mũi Cà au đến ải Nam Quan éo dài t Nam đến ắc với trung tâm là inh đô Huế. Tu nhiên nhà Ngu n cũng phải đối mặt với hàng loạt hó hăn sau nhiều năm binh lửa l ng người chưa thuận xã hội phức tạp hệ thống quan lại đổ nát t nh h nh thế giới và hu vực có nhiều thách thức.
Điều nà đặt ra những trọng trách và nhiệm vụ nặng nề cho các vua đầu triều Ngu n trong vấn đề nội trị ngoại giao. Vua Gia ong trị v 18 năm 1802-1819 đã bước đầu đưa đất nước đi vào nề nếp inh tế há phát triển xã hội dần ổn định vị thế của triều Ngu n trên trong hu vực được nâng cao. ở ra vương triều Ngu n sau hông ít hó hăn gian hổ nên Gia ong có chính sách cai trị tương đối mềm d o linh hoạt hông quá giáo điều. Điều nà tạo tiền đề cho inh ệnh tiến hành hàng loạt các cải cách về chính trị xã hội inh tế quân sự để củng cố vương triều sau đó.
inh ệnh 1791-1841 tên hú là Ngu n Phúc Đảm con trai thứ 4 của Gia ong. Năm 1816 ông được phong làm hoàng thái tử. Đến năm 1820 ông nối ngôi Gia ong hi gần 30 tuổi. inh ệnh được đánh giá là người có những ph m chất đế vương với phong thái mạnh m qu ết đoán trí tuệ thông minh sắc sảo bản tính siêng năng chăm lo việc nước.
Đặc biệt ông nối ngôi hi thực sự trưởng thành sau một thời gian dài được r n cặp bởi những nhà Nho nghiêm hắc. ởi vậ inh ệnh đã hoàn thiện và đưa thiết chế quân chủ tập qu ền nhà Ngu n lên đến đỉnh cao độc tôn Nho giáo đề cao pháp trị thống nhất thể 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, Minh ệnh càng tăng cường sức mạnh của bộ má hành chính - quân sự nhà nước th áp chế xuống các tầng lớp nhân dân càng gia tăng gâ nên t nh trạng bất mãn mất ổn định xã hội. V vậ dưới thời inh ệnh trị v số lượng các cuộc đấu tranh của nông dân và các dân tộc thiểu số miền núi lớn hơn hẳn thời Gia ong1.
ên cạnh đó cục diện thế giới và hu vực thời nà có nhiều chu ển biến mạnh m tác động hông nhỏ đến nước ta. Cuối thế XVIII đầu thế XIX là giai đoạn chủ ngh a tư bản phương Tâ cực thịnh éo theo sự phát triển của chủ ngh a thực dân. Nhu cầu t m iếm nguồn ngu ên nhiên liệu sức lao động r mạt và thị trường tiêu thụ đã hiến các nước tư bản phương Tâ lao vào cuộc chạ đua tranh giành thuộc địa. Cuộc đua nà đ những nước ém phát triển hơn ở Châu Á và Châu Phi vào ngu cơ bị xâm lược trong đó có Việt Nam.
Để mở đường cho công cuộc xâm chiếm thuộc địa t thế XVII các thương nhân các giáo s phương Tâ đã đặt chân đến Việt Nam thiết lập mạng lưới buôn bán tru ền đạo và cả do thám. Thời Gia ong trị v với ơn huệ trong cuộc chiến chống lại nhà Tâ Sơn trước đó nên mối giao hảo giữa triều đ nh nhà Ngu n và người Pháp há êm đ p. Tu nhiên Ngu n Ánh cũng nhận thấ những sự đe dọa ngầm t phía các nước phương Tâ. V thế mối quan hệ Việt - Pháp lạnh nhạt dần và đến thời inh ệnh th chấm dứt.
Để đối phó với các âm mưu hành động xâm lược inh ệnh đã mạnh ta trong vấn đề đóng cửa với các nước phương Tâ đồng thời há cực đoan trong chính sách đối với người Công giáo. Trung Quốc bước vào thế XIX với sự su ếu r rệt trở thành miếng bánh ngon cho các nước tư bản phương Tâ xâu xé. Tu nhiên đối với nhà 1 Thời Gia ong có hoảng 90 cuộc đấu tranh thời inh ệnh có hoảng 250 cuộc đấu tranh. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngu n triều đ nh ãn Thanh vẫn là thiên triều với qu ền lực mạnh m chu n mực tối thượng buộc phải dựa dẫm thần phục.
hi v a lên ngôi Gia ong lập tức sai sứ sang nhà Thanh xin phong vương thiết lập mối quan hệ ngoại giao. Đều đặn 3 năm một lần các đoàn sứ nhà Ngu n mang l vật sang nhà Thanh triều cống. Thậm chí cả quốc hiệu nước ta cũng phải được triều Thanh chấp nhận mới sử dụng. Điều nà xuất phát t tư tưởng Nho giáo nặng nề và vấn đề biên giới phía ắc luôn thường trực trong quan điểm của các vị vua đầu triều Ngu n.
T nửa sau thế k XV đến cuối thế k XVIII t nh h nh bán đảo Đông Dương có nhiều di n biến phức tạp. Nước Lào bị chia nhỏ thành ba tiểu quốc. Việt Nam trong tình trạng nội chiến Nam Bắc triều, phân liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài sau đó lại đến cuộc nội chiến gay gắt giữa Nguy n Ánh và nhà Tâ Sơn. Chân Lạp sau một thời k thịnh trị của đế chế Angkor bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái mà lịch sử thường gọi là giai đoạn hậu Ang or.
Những cuộc tranh giành đẫm máu di n ra trong hoàng tộc và một thực tế lịch sử đã cho thấy, diện tích đất đai của Chân Lạp cũng ngà càng bị thu h p do những cuộc tranh giành này. Trong hi đó vương quốc Xiêm La lại đang trên đà hưng thịnh và phát triển nhất là sau chiến thắng quân xâm lược Miến Điện năm 1767. Đâ là điểm khác biệt lớn của lịch sử Xiêm La so với các quốc gia trong khu vực vào thời k này. Chính vì thế mà Xiêm a có được ưu thế chính trị - quân sự lớn mạnh nhất lúc bấy giờ.
Dựa vào đó vương quốc Xiêm dưới thời Taksin (1767-1782) và thời k đầu của triều đại Chakri1 (1782-1851 đã tiếp tục thực hiện chính sách bành trướng mang tính truyền thống. Họ đã tiến hành xâm lược các tiểu quốc ở Lào, Chân Lạp và cả Việt Nam. Lần lượt ba tiểu quốc của Lào trở thành chư hầu của Xiêm t sau năm 1778; tỉnh Battambang2 và Xiêm - Riệp (Angkor) của Chân Lạp cũng bị sáp nhập vào lãnh thổ của Xiêm 1795. Nh n chung đến cuối thế 1 Trải qua ba đời vua Rama I Rama II Rama III.
2 Sử nhà Ngu n dịch là ắc Tầm ôn. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com k XVIII Xiêm đã chi phối cả khu vực rộng lớn gồm lãnh thổ của Lào và Campuchia ngày nay [9]. Trong thời gian này, các Chúa Nguy n ở Đàng Trong cũng dần nổi lên là một thế lực hùng mạnh và bắt đầu tranh giành ảnh hưởng của Xiêm a đối với cả Campuchia và Lào. Thông qua một số hoạt động ngoại giao, hôn nhân, các Chúa Nguy n bước đầu thiết lập được quan hệ chi phối đối với hai nước này.
T hi vương triều Nguy n được thiết lập năm 1802 t nh h nh hu vực đã có nhiều tha đổi. Trên một lãnh thổ rộng lớn gần như tương ứng với lãnh thổ Việt Nam ngày nay, nhà Nguy n đã xâ dựng một thiết chế quân chủ tập quyền mạnh m đặc biệt là sau cuộc cải cách hành chính của Minh Mệnh vào năm 1831-1832. Triều Nguy n đã được nhà Thanh công nhận và được nhiều quốc gia trong khu vực thiết lập quan hệ ngoại giao như Vạn Tượng Nam Chưởng (còn gọi là Lào Lung), Chân Lạp, Miến Điện và cả Xiêm La. Theo thống kê của TS.
Đặng Văn Chương dưới thời Gia Long (1802-1819), triều đ nh Xiêm a đã cử 12 sứ bộ sang Việt Nam và Việt Nam cũng cử 5 đoàn phái bộ sang Xiêm La [9]. Ông cũng cho r ng t khi vua Gia Long lên ngôi thì mối quan hệ Việt - Xiêm mới thật sự b nh đẳng, gần gũi và chính thức được thiết lập [22]. Các nước Vạn Tượng, Chân Lạp trước là thuộc quốc của Xiêm La, nay sang triều cống và bày tỏ ý định thần phục nhà Nguy n cũng hông gặp phải sự phản ứng mạnh m t phía triều đ nh Xiêm a điều này cho thấy vị thế chính trị mới của nhà Nguy n trong khu vực vào những năm đầu thế k XIX. Để đạt được vị thế chính trị đó phải kể đến tiềm lực quân sự mạnh m của triều Nguy n trong thời k này.
Triều Nguy n đã được th a hưởng thanh thế của nhà Tâ Sơn sau chiến thắng quân Xiêm l ng lẫy. Th a kế được ảnh hưởng mà các Chúa Nguy n đã gâ dựng được đối với các nước trong khu vực. Sau nữa các vua đầu triều Nguy n đều chú tâm đến vấn đề quân sự, mộ quân, tập luyện, sử dụng các vũ hí phương Tâ. hướng đến một đội quân tinh nhuệ.
Đặc biệt dưới 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời Minh Mệnh nước ta được đánh giá là có tiềm lực quân sự vào hàng mạnh nhất khu vực lúc bấy giờ. ản thân inh ệnh là một vị vua mạnh m qu ết đoán có tài thao lược và tầm nh n rộng. Chính vì vậ dù trong thời b nh ông vẫn nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường sức mạnh quân sự: Việc binh có thể trăm năm hông dùng đến nhưng hông thể một ngày không dự bị [127, 13]. Dưới thời Minh Mệnh quân đội nhà Nguy n há hoàn chỉnh với cả bộ binh, thủ binh tượng binh, kị binh và pháo binh.
inh lính được cắt đặt theo t ng địa phương vào các doanh đội cơ và hướng tới việc xây dựng một đội quân tinh nhuệ, thiên về chất lượng hơn là số lượng. Những nơi hiểm yếu nhà vua cho đặt các đồn ải, cửa biển và hải đảo thiết lập các pháo đài. inh ệnh cũng lưu ý đến việc học hỏi các thành tựu quân sự của phương Tâ nhất là về vũ hí và thủy chiến. Sức mạnh quân sự của nhà Ngu n dưới thời inh ệnh đã được chứng minh trên thực tế sau chiến thắng trước quân Xiêm vào năm 1833-1834.