phần mở đầu, phần nội dung và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng chính có kết cấu nhƣ sau: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH LƢƠNG THEO THOẢ THUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆN. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TRẢ LƢƠNG NHÂN LỰC KHOA HỌC THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH 115, NGHỊ ĐỊNH 43. CHÍNH SÁCH LƢƠNG THEO HÌNH THỨC THOẢ THUẬN CHO NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH LƢƠNG THEO THOẢ THUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÂN LỰC KHOA HỌC TRONG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM. Các khái niệm cơ bản 1. Chính sách Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” đƣợc hiểu là “sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách. Theo James Anderson thì “Chính sách” là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”.
Các chính sách có thể đƣợc đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau nhƣ: Chính sách của Liên hợp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của một Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phƣơng, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp. Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể. có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiêp, hiệp hội hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, vì vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và đƣợc coi là những “chính sách tƣ”, tuy trên thực tế khái niệm “chính sách tƣ” hầu nhƣ không đƣợc sử dụng.
Chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nƣớc ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng đƣợc gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung nhƣng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nƣớc. Vậy khi nói về chính sách là nói về một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá dƣới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dƣới luật nhƣ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghị định, thông tƣ, chỉ thị của Chính phủ; hoặc của các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (viện, trung tâm nghiên cứu, trƣờng đại học. Nói cách khác, vật mang chính sách chính là văn bản quy phạm pháp luật.
Chính vì vậy, so với khái niệm pháp lụât, chính sách đƣợc hiểu rộng hơn nhiều. Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần đƣợc tìm hiểu ở một số khía cạnh sau: - Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đƣờng lối chính trị chung. Dựa vào đƣờng lối chính trị chung, cƣơng lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền mà ngƣời ta định ra chính sách. - Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật.
Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể có chính sách chƣa đƣợc pháp luật hoá (thể chế hoá), hoặc cũng có thể không bao giờ đƣợc luật pháp hoá vì nó không đƣợc lựa chọn để pháp luật hoá khi không còn phù hợp với tƣ tƣởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhƣng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phƣơng tiện thể hiện của chính sách khi nó đƣợc thừa nhận.
Tóm lại: Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hƣớng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát tiển của một hệ thống xã hội. Chính sách lương Lƣơng bổng là một trong những động lực kích thích con ngƣời làm việc hăng hái, nhƣng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, bất mãn hoặc từ bỏ công ty mà ra đi. Tất cả đều tùy thuộc vào trình độ và năng lực của các cấp quản trị. Và luôn luôn là vấn đề "nhức nhối" của hầu hết các công ty ở Việt Nam.
Đây là một đề tài gây tranh luận sôi nổi trên diễn đàn 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quốc hội Việt Nam trong nhiều năm qua và hiện nay nó vẫn còn là đề tài nóng bỏng đối với Việt Nam. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển nhƣ ở Việt Nam thì nhu cầu của con ngƣời mới chỉ đảm bảo ở mức độ thấp, tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, nghỉ ngơi, bảo vệ sức khỏe và học tập. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhu cầu đƣợc thể hiện tập trung ở lợi ích kinh tế - động lực trực tiếp thúc đẩy ngƣời lao động làm việc và làm việc có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả. Lợi ích kinh tế theo C.Mác, là một phạm trù kinh tế, biểu hiện của quan hệ sản xuất, đƣợc phản ánh trong ý thức, thành động cơ hoạt động nhằm thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu vật chất của các chủ thể tham gia lao động.
Bất cứ một cá nhân hay tập thể lao động trƣớc và trong khi làm việc cũng đều suy nghĩ: mình đƣợc gì và có quyền lợi nhƣ thế nào khi tham gia lao động. Vấn đề đặt ra là: mỗi nhà quản lý cần phải biết điều tiết hài hoà các lợi ích không để lợi ích này xâm phạm hoặc làm tổn hại đến đến lợi ích kia, mọi biểu hiện coi thƣờng lợi ích hoặc chỉ động viên chung chung nhƣ thời bao cấp trƣớc đây đều không có tác dụng động viên kích thích ngƣời lao động làm việc. Đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam, sau khi đánh giá lại những thiếu sót, sai lầm của mình trong công tác quản lý, đã khẳng định phải kết hợp hài hoà các lợi ích theo nguyên tắc, lấy lợi ích của ngƣời lao động làm cơ sở, và mỗi chủ trƣơng, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc trong đó có chính sách tiền lƣơng phải xuất phát từ lợi ích, nhu cầu và khả năng ngƣời lao động. Để phù hợp với khái niệm mới về bản chất tiền lƣơng trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam, có một yêu cầu mới là phải làm cho tiền lƣơng thực hiện đầy đủ các chức năng của nó: chức năng thƣớc đo giá trị là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm giá cả sức lao động) biến động.
Chức năng tái sản xuất sức lao động nhƣng duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lƣơng bảo đảm bù đắp đƣợc sức lao động đã hao phí cho ngƣời lao động. Chức năng kích thích bảo đảm năng suất lao động cho ngƣời lao động, duy trì cuộc sống hàng ngày và dự phòng cho cuộc sống lâu dài của họ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, Chính sách lƣơng là tập hợp các biện pháp về lƣơng, thƣởng, giá cả sức lao động đƣợc thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một hoặc một nhóm ngƣời trong xã hội, kính thích vào hoạt động của con ngƣời, định hƣớng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội. Nhân lực khoa học và công nghê ̣ Theo UNESCO, nhân lực KH&CN (S & T personnel) là “những ngƣời trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và đƣợc trả lƣơng hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sƣ, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ.
Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thƣ viện và bảo tàng, dịch vụ và hiệu đính tài liệu KH&CN; Điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tƣợng kinh tế xã hội; tiêu chuẩn, chất lƣợng, dịch vụ tƣ vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng. Khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng.
Vì vậy, ngoài nhân lực KH&CN theo định nghĩa trên, UNESCO còn thu thập hai nhóm số liệu khác, đó là “các kỹ sƣ và nhà khoa học tiềm năng” và “các kỹ thuật viên tiềm năng” là những ngƣời nằm trong tổng vốn nhân lực hay những ngƣời thuộc lực lƣợng hoạt động kinh tế có bằng cấp của nhà khoa học/kỹ sƣ/kỹ thuật viên. UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp mà theo công việc hiện đang đảm nhận. Theo OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) đƣa ra định nghĩa về nhân lực dựa trên trình độ và công việc 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhƣ: Nhân lực KH&CN bao gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong các điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trƣờng đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn đƣợc gọi là trình độ 3 – giáo dục phổ thông bậc cao, trong hệ giáo dục đào tạo). - Không đƣợc đào tạo chính thức nhƣ đã nói ở trên nhƣng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên.
Kỹ năng tay nghề ở đây đƣợc đào tạo tại nơi làm việc.