mở đầu cho công cuộc xâm lược của chủ nghĩa thực dân vào khu vực này. Tiếp đến là Hà Lan chiếm Indonesia, Tây Ban Nha chiếm Philippines, Pháp chiếm ba nước Đông Dương, Miến Điện và Mã Lai cũng chịu chung số phận thuộc địa. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nói, khu vực Đông Nam Á thu hút sự chú ý của chủ nghĩa thực dân nhất. Bởi, nơi đây có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, dân số đông đúc, và một điểm quan trọng là vị trí thuận lợi của khu vực này có thể làm bàn đạp tấn công sang thị trường Trung Hoa rộng lớn.
Sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước tư bản mới nổi có nền kinh tế phát triển năng động nhưng có quá ít hoặc không có thị trường thuộc địa với các nước thực dân ―già‖ kinh tế trì trệ, lạc hậu nhưng lại nắm giữ quá nhiều thuộc địa. Các nước thực dân ―già‖ không còn đủ sức để duy trì sự thống trị thuộc địa như trước nữa, đành phải ―nhượng lại‖ cho các nước thực dân mới có năng lực hơn. Điển hình là trường hợp của Tây Ban Nha ―nhượng‖ cho Mỹ quần đảo Philippines với giá 20 triệu đô la (USD). Sự xâm nhập và cai trị của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á, về mặt khách quan đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế xã hội của khu vực này.
Sự du nhập của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cùng với sự xuất hiện của các giai tầng mới ngày càng trưởng thành về ý thức hệ, đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử quan trọng là thức tỉnh và lãnh đạo dân tộc giành lại độc lập tự do. Phong trào giải phóng dân tộc của tầng lớp trí thức tiểu tư sản bùng nổ mạnh mẽ nhưng thất bại. Trong lúc con đường giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa đang khủng hoảng về đường lối lãnh đạo thì Cách mạng tháng Mười dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đã thành công ở Nga ( tháng 10/1917) mở ra con đường cứu nước mới cho các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc. Thắng lợi của cuộc cách mạng ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc tại các nước thuộc địa ở Đông Nam Á.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), các nước thắng trận cũng như bại trận đều trút gánh nặng lên thuộc địa, làm cho mâu thuẫn dân tộc càng thêm gay gắt. Phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa chống thực dân, đế quốc diễn ra trên quy mô rộng lớn. Từ sau cách mạng Tháng Mười ở Nga thành công phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc bùng nổ mạnh mẽ khiến các nước đế quốc không thể cai trị thuộc địa như cũ được nữa. Mỹ buộc phải nới lỏng sự kiểm soát và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com áp dụng quyền tự trị rộng rãi hơn cho Philippines.
Cho phép thành lập Liên bang Philippines. Năm 1935, Hiến pháp Philippines tự trị được Tổng thống Mỹ phê chuẩn, Philippines có được địa vị Thịnh vượng chung dưới thời Tổng thống Manuel Quezon. Các chính sách về kinh tế thời kỳ này có phần bớt khắt khe hơn. Chính phủ tự trị tiến hành cải cách đất đai và chuẩn bị các kế hoạch để tiến tới độc lập, nhưng sau đó bị gián đoạn bởi Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thời điểm gần kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai là thời cơ để các nước thuộc địa đứng dậy đấu tranh đòi lại độc lập. Cách mạng giải phóng dân tộc thành công ở một số nước, tiêu biểu là Cách mạng tháng Tám (tháng 8/1945) ở Việt Nam và sau đó lan rộng ra toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Tình hình đó đe dọa đến sự tồn vong của hệ thống thuộc địa của thực dân phương Tây tại khu vực này. Điều này đòi hỏi các nước thực dân phải đưa ra các chính sách cai trị phù hợp để tiếp tục duy trì ảnh hưởng của mình tại thuộc địa.
Trước cơn bão đấu tranh giành độc lập của các nước trong khu vực, ngày 4/7/1946, Mỹ chính thức công nhận nền độc lập của Philippines trong nhiệm kỳ Tổng thống Manuel Roxas. Tình hình nƣớc Mỹ Thế kỷ XIX, nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh mẽ ―là nước đi đầu trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế Mỹ có những bước phát triển vượt bậc, nhanh chóng vượt qua nước Anh tư sản” [7; tr. Không có nước nào có nền kinh tế phát triển nhanh chóng như Mỹ ―Khoảng 30 năm sau cuộc nội chiến (1861 – 1865), từ một nước nông nghiệp có nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào châu Âu, chỉ trong một thời gian ngắn, Mỹ đã vươn lên trở thành một cường quốc công – nông nghiệp hàng đầu thế giới. Sản lượng công nghiệp Mỹ năm 1894 bằng 50% sản lượng công nghiệp các nước Tây Âu gộp lại, gấp hai lần Anh.
Cuối thế kỷ XIX, sản xuất gang thép, máy móc của Mỹ đã chiếm hàng đầu thế giới‖ [35; tr. Mỹ vươn lên vị trí đứng đầu trong thế giới tư bản.Với những thành tựu vượt bậc về kinh tế, giai cấp tư sản Mỹ đặt mục tiêu mở rộng ảnh hưởng ra bên ngoài để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng. Để giải quyết nhu cầu đó, giới cầm quyền Mỹ đã sớm đưa ra những quan 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm mới về vấn đề mở rộng, bành trướng lãnh thổ ―Mỹ ngay từ những thập niên cuối của thế kỷ XIX đã đưa ra thuyết “định mệnh lịch sử” hay “số mệnh hiển nhiên”, trong đó cho rằng, người Mỹ phải chiếm lấy các vùng đất châu Á cả biển và đất liền nếu như muốn tồn tại lâu dài và tiếp tục phát triển. Muốn thực hiện được điều đó, Mỹ phải có lực lượng hải quân mạnh.
Đây thực ra là sự nối dài của học thuyết Monroe 1 đưa ra từ 1823‖ [54; tr. Nội dung học thuyết này cũng được thể hiện trong quan điểm của giới chính trị, quân sự, một số thương gia và một bộ phận công chức Mỹ những giai đoạn sau đó. Thượng nghị sĩ Platt cho rằng ―Bất cứ sự bành trướng nào của chúng tôi về mặt lãnh thổ đều hoàn toàn phù hợp với những quy luật phát triển là những quy luật không thể khắc phục được‖ [37; tr. Từ vị thế hiện tại của Anh, Đô đốc hải quân Mahan cho rằng sức mạnh hải quân chính là vấn đề mấu chốt đối với Mỹ.
Mahan viết bài đăng trên các tạp chí kêu gọi nước Mỹ chú ý tới các đặc điểm chiến lược của vùng biển Caribean. Mahan cũng xếp Cuba, Eo Panama và Hawaii là một hệ thống và cho rằng hệ thống đó có ý nghĩa sống còn đối với nền an ninh Mỹ [62; tr. Xuất phát từ tư tưởng của Mahan, một quan điểm mới được hình thành là quan điểm ―thực lực‖. Mỹ áp dụng thuyết ―định mệnh‖ kết hợp với quan điểm ―thực lực‖ ở khu vực Mỹ Latinh và sau đó mở rộng ra thế giới mà trước hết là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Philippines [54; tr.
Có thể nói học thuyết Monroe là mốc đánh dấu sự chuyển hướng trong chính sách đối ngoại của Mỹ, chuyển từ chủ nghĩa ―_trung lập_‖ sang ―_chủ nghĩa bành trướng_‖ mà mục tiêu trước hết là khu vực Mỹ Latinh.“ Có thể xem đây là mốc khởi đầu cho những tham vọng toàn cầu của Mỹ” [24; tr. Học thuyết Monroe là nền tảng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ trong những giai đoạn sau. Mặc dầu, Mỹ giành được ảnh hưởng ở khu vực Mỹ Latinh nhưng hệ thống 1 Nội dung của học thuyết Monroe năm 1823 được đưa ra trên các phương diện sau: +Mỹ phải quan tâm đến các tranh chấp ở khu vực Mỹ Latinh. +Vì lí do an ninh của mình, Mỹ sẽ có hành động can thiệp vào các cuộc xung đột hoặc chiến tranh giữa các nước Mỹ Latinh với nhau hoặc giữa các nước này với các nước ngoài châu Mỹ.
Mỹ cũng sẽ tham gia vào các cuộc tranh chấp chính trị, kinh tế ở châu Mỹ. +Mỹ tự cho rằng phải có trách nhiệm bảo vệ an ninh của cả châu lục khỏi sự nhòm ngó từ bên ngoài. Tuyên bố khẩu hiệu nổi tiếng ―châu Mỹ là của châu Mỹ‖ nhưng thực chất là ―Châu Mỹ của người Mỹ‖. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc địa của Mỹ vẫn kém xa hệ thống thuộc địa mà Anh, Pháp đang nắm giữ và điều này không xứng tầm với sự phát triển kinh tế của Mỹ.
Mâu thuẫn giữa khả năng kinh tế và địa vị trên trường quốc tế đã thôi thúc Mỹ phải nhanh chóng chiếm được nhiều thuộc địa, để giành được vị trí tương xứng với sự phát triển kinh tế của mình. Cùng với đó, chính sách thuế quan ngặt nghèo của các nước châu Âu khiến thương mại Mỹ luôn thường trực mối lo ngại về nguy cơ thị trường thuộc địa bị thu hẹp. Nhưng vào thời điểm cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản gần như đã chia xong hệ thống thuộc địa trên thế giới, chỉ còn ―chiếc bánh ngọt Trung Quốc‖ là đang bị các nước đế quốc xâu xé, và hiện chưa thuộc quyền sở hữu của bất cứ nước nào. Mục tiêu của Mỹ đối với Trung Quốc thể hiện qua công hàm của Ngoại trưởng Jonh Hay đề ra năm 1899 gửi cho các nước lớn, yêu cầu họ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc và mở rộng cửa cho hàng hoá nước ngoài vào buôn bán.
Thực chất của công hàm này là muốn ngăn chặn khả năng Trung Quốc bị biến thành thị trường, thuộc địa độc quyền của những nước đế quốc khác, qua đó tạo cơ hội để hàng hoá Mỹ có thể xâm nhập thị trường rộng lớn này. Ngoài ra, Mỹ còn đặt mục tiêu chiếm các nước xung quanh để làm bàn đạp xâm nhập sâu hơn vào Trung Quốc. Philippines trở thành mục tiêu đầu tiên mà Mỹ chọn để thực hiện mục tiêu này. Bước sang thế kỷ XX, kinh tế Mỹ có cơ hội phát triển mạnh mẽ.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Mỹ là nước tham chiến muộn, nhưng đóng vai trò quan trọng, nhờ buôn bán vũ khí, Mỹ trở thành chủ nợ của các nước châu Âu. Kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh chóng, trở thành trung tâm tài chính - thương mại quốc tế. Tuy nhiên vào cuối những năm 1920, ở Mỹ nổ ra cuộc khủng hoảng thừa làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn định. Phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động tăng cao.
Bối cảnh đó khiến giới cầm quyền Mỹ phải đưa ra những chính sách đối nội, đối ngoại phù hợp.