mở đầu bằng những sự kiện làm đảo lộn tình hình và tƣơng quan lực lƣợng trên thế giới. Những sự kiện đó cũng đã có tác động mạnh mẽ tới việc hoạch định chính sách đối ngoại nói chung, chính sách hội nhập quốc tế nói riêng của Đảng và Nhà nƣớc ta. Đầu tiên đó là sự tan rã của Liên Xô và các nƣớc XHCN ở Đông Âu. Liên Xô và các nƣớc XHCN ở Đông Âu đã chậm đổi mới tƣ duy, chậm ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ vào việc phát triển nền kinh tế, thiếu sự quyết đoán và phƣơng sách hiệu quả nhằm khắc phục các khuyết tật của mô hình phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, khép kín dẫn đến việc những nƣớc này ngày càng tụt hậu về kinh tế, khoa học và công nghệ so với các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, những rối ren về chính trị, mâu thuẫn và xung đột giữa các dân tộc dẫn đến hiện tƣợng ly khai của một số nƣớc cộng hòa ra khỏi Liên bang Xô viết. Về đối ngoại, Liên Xô thực hiện rút quân chiến lƣợc, rút quân đội khỏi các căn cứ quân sự ở nƣớc ngoài, giảm hoặc cắt viện trợ quân sự, giải thể khối quân sự Vácxava, tăng cƣờng chính sách hoà hoãn với Mỹ. Tình hình đó cũng thúc đẩy các nƣớc XHCN ở Đông Âu đi vào cải cách. Tuy vậy, cũng nhƣ Liên Xô, tình hình ở các nƣớc XHCN ở Đông Âu rơi vào những khủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội và cùng trên bờ vực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của sự tan rã.
Bên cạnh đó, các nƣớc đế quốc đã chớp lấy cơ hội này tăng cƣờng hoạt động “diễn biến hoà bình”, khuyến khích các lực lƣợng chống đối gây bạo loạn và lật đổ chế độ. Sau khi Liên Xô và chế độ XHCN ở các nƣớc Đông Âu tan rã, chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào. Tƣơng quan lực lƣợng trên thế giới tạm thời có lợi cho Mỹ và các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây, chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực không còn nữa. Thay vào đó là một trật tự thế giới mới đang hình thành.
Chiến tranh lạnh kết thúc, “hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới” [19, tr. Quan hệ giữa các quốc gia từ đối đầu chuyển sang đối thoại, các quốc gia quan tâm tới việc cải thiện các mối quan hệ, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, “các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế, thƣơng mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác” [19, tr. Vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình là một nhu cầu khách quan; tăng cƣờng hội nhập và hợp tác quốc tế, chạy đua vũ trang đƣợc thay thế bằng chạy đua về kinh tế, khoa học – kỹ thuật tiếp tục đƣợc nghiên cứu và phát triển, các nƣớc “coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cƣờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia” [19, tr.464] và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới vẫn xảy ra những cuộc “xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố” [19, tr.
Phong trào ly khai đã diễn ra ở nhiều nơi, những cuộc “nồi da xáo thịt” giữa các dân tộc mà trƣớc đây cùng chung sống trong một nƣớc. Những mâu thuẫn đó đƣợc che lấp dƣới thời chiến tranh lạnh nay bộc lộ thành xung đột gay gắt. Phần lớn những mâu thuẫn, tranh chấp này đều có căn nguyên lịch sử nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng. Điều đó đã cho thấy tình hình thế giới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vẫn còn nhiều bất ổn, “diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lƣờng” [19, tr.
Bên cạnh những thay đổi về chính trị, kinh tế trên thế giới, cuộc “cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lƣợng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội” [19, tr. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã làm thay đổi một cách căn bản và tạo ra bƣớc phát triển mạnh mẽ trình độ của lực lƣợng sản xuất. Nó là nhân tố cơ bản làm cho xã hội phát triển, đồng thời nó tạo ra những thay đổi căn bản cả về lƣợng và chất đối với mọi mặt của đời sống xã hội, nó cũng là tác nhân thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa. Bên cạnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ là cuộc cách mạng công nghệ thông tin, nó đã đƣa nhân loại từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức, chính nó đã thu hẹp khoảng cách thế giới và đặt ra cho các nƣớc còn khép kín nền kinh tế phải có chính sách phù hợp với sự phát triển của thế giới.
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa phát triển nhanh chóng. Xu thế toàn cầu hóa đã mang lại cho thế giới một sắc thái mới đó là sự nhích lại gần nhau của những nền kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi lƣu thông tiền tệ và thƣơng mại phải tự do hơn, nó làm cho các nền kinh tế ngày càng thâm nhập, đan xen lẫn nhau, tăng thêm sự phụ thuộc vào nhau. Nó đòi hỏi các quốc gia phải có chính sách hội nhập quốc tế một cách hợp lý, đáp ứng đƣợc những yêu cầu của thế giới và khu vực, đồng thời vẫn giữ đƣợc tính độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia.
Toàn cầu hóa, khu vực hóa đem đến cho các quốc gia những cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia cũng nhƣ tận dụng cơ hội khác nhau mà dẫn đến sự phát triển khác nhau. Bên cạnh đó, các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa và các công ty đa quốc gia có ƣu thế về vốn, công nghệ, thị trƣờng cho nên có lợi thế lớn hơn rất nhiều so với các nƣớc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chậm phát triển và đang phát triển, chênh lệch giầu nghèo giữa các nƣớc này cũng sẽ ngày càng mở rộng. Với nền kinh tế toàn cầu, việc tổ chức sản xuất và khai thác thị trƣờng trong phạm vi một nƣớc đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất và khai thác thị trƣờng trên phạm vi thế giới và theo đó, sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng có những ảnh hƣởng nhất định đến thị trƣờng chung trên thế giới.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, là quá trình khu vực hóa. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức khu vực, liên khu vực đã thu hút các quốc gia tham gia, có thể kể đến một số tổ chức: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) … Các liên kết khu vực này lúc đầu xuất phát từ các nhu cầu về phát triển kinh tế nhƣng sau đó tiến dần tới những liên kết về chính trị. Sự liên kết khu vực thƣờng thể hiện ở năm cấp độ khác nhau từ ƣu đãi thƣơng mại, thị trƣờng tự do, liên minh quan thuế, thị trƣờng chung và cuối cùng là các “liên kết đa diện kiểu Liên minh châu Âu - về cả thị trƣờng lẫn chính sách kinh tế, đồng tiền chung, quốc hội chung. Các tổ chức khu vực còn có một đặc điểm nữa đó là khả năng thu hút đƣợc cả những quốc gia có chế độ chính trị khác nhau nhằm tận dụng khả năng của nhau, đồng thời các quốc gia ngày nay cũng xác định cần phải dựa vào nhau bởi khó có khả năng độc lập để giải quyết công việc.
Trong bối cảnh đó, các nƣớc vừa và nhỏ cũng điều chỉnh chính sách đối ngoại để tạo vị thế có lợi hoặc ít bất lợi nhất trong môi trƣờng quốc tế đã thay đổi. Chiều hƣớng chung là thi hành chính sách đối ngoại theo hƣớng đa dạng hóa, tập hợp trên cơ sở lợi ích song trùng, coi trọng việc cải thiện và phát triển quan hệ với các nƣớc láng giềng và khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với các nƣớc lớn và các trung tâm chính trị - kinh tế trên thế giới Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thế giới đứng trƣớc nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trƣờng sống, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo…) không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần phải có sự hợp tác đa phƣơng. Các vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, cùng bàn thảo và có quyết sách hợp lý thì mới có thể giải quyết đƣợc. Từ nhu cầu khách quan đó, trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều các diễn đàn song phƣơng và đa phƣơng cùng bàn bạc, hợp tác giải quyết các vấn đề mà các bên cùng quan tâm (Hội nghị quốc tế bàn về việc thực hiện Nghị định thƣ Kyoto – Cắt giảm lƣợng khí thải toàn cầu).
Chính từ các diễn đàn này mà vai trò của các nƣớc vừa và nhỏ đƣợc nâng lên, bởi những nƣớc đó cũng có những tiếng nói nhất định đóng góp cho các diễn đàn nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu. Đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng, nơi tập trung những nền kinh tế lớn trên thế giới, nơi có quốc gia đông dân nhất thế giới, có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, nằm trên trục đƣờng giao thông quan trọng, thì nhiều chuyên gia cho rằng Châu Á - Thái Bình Dƣơng sẽ ngày càng phát triển và là một khu vực năng động. Ở khu vực này có những nền kinh tế hùng mạnh nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Canađa. Các cƣờng quốc này đang có vai trò quan trọng trong việc chi phối các hoạt động quốc tế.
Bên cạnh đó còn có các nền kinh tế mới công nghiệp hoá nhƣ Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Xingapo; nhiều nƣớc đang phát triển với tốc độ nhanh và có tiềm năng lớn nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan .