Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Thế giới (mã số 9229011) với đề tài "Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam (1973-1975)" được nghiên cứu sinh Hồ Thanh Tâm thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đào Minh Hồng và TS. Lê Phụng Hoàng.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ trong tiến trình lịch sử quan hệ đối ngoại thời kỳ Chiến tranh Lạnh (1947-1989), chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ giai đoạn 1945-1975 thường được phân kỳ thành ba chặng: (1) 1945-1954: can thiệp gián tiếp qua thực dân Pháp; (2) 1954-1969: can thiệp trực tiếp, đưa quân đội tham chiến; (3) 1969-1975: rút quân và tìm kiếm "hòa bình trong danh dự". Trong khi hai giai đoạn đầu đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, giai đoạn 1973-1975 lại chưa trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên biệt của một công trình sử học toàn diện nào tại Việt Nam. Giai đoạn ngắn ngủi 1973-1975 diễn ra những biến chuyển căn bản: Học thuyết Nixon (1969) thay thế Học thuyết Truman; quan hệ giữa các cường quốc chuyển từ đối đầu căng thẳng sang hòa hoãn (Chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon năm 1972 và Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Xô năm 1972); nước Mỹ trải qua hai đời Tổng thống (Richard Nixon và Gerald Ford) cùng sự can thiệp ngày càng quyết liệt của Quốc hội.

Mục đích nghiên cứu của công trình là xác định những thay đổi cơ bản trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam sau Hiệp định Paris (1973), phục dựng toàn diện quá trình triển khai chính sách này dưới hai chính quyền R. Nixon và G. Ford, từ đó lý giải nguyên nhân thất bại nhanh chóng của chính sách Việt Nam từ góc nhìn sử học Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số và xác định cụ thể trong văn bản gồm ba nhiệm vụ:

  1. Phân tích các nhân tố tác động dẫn đến sự thay đổi chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ từ sau Hiệp định Paris (1973). Làm rõ những thay đổi cơ bản trong nội dung chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam so với các giai đoạn trước (từ 1945-1973).
  2. Phục dựng một cách toàn diện và khách quan quá trình triển khai chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ dưới hai đời Tổng thống: chính quyền Tổng thống R. Nixon (giai đoạn từ 01/1973 đến 8/1974) và chính quyền Tổng thống G. Ford (giai đoạn từ 8/1974 đến 4/1975).
  3. Diễn giải những khó khăn trong quá trình triển khai chính sách này trong giai đoạn tương ứng 1973-1975; phân tích vai trò của Tổng thống và Quốc hội Hoa Kỳ trong hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại.

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. Chính sách Việt Nam của Mỹ ở giai đoạn này có những khác biệt gì trong đối sánh với hai giai đoạn trước?
  2. Những nhân tố nào mang tính quyết định đến sự thay đổi của chính sách đó?
  3. Trong hai năm với hai đời Tổng thống Mỹ, việc triển khai chính sách từ chính quyền của Tổng thống R. Nixon sang chính quyền của Tổng thống G. Ford là nhất quán hay có sự thay đổi về chính sách?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong giai đoạn 1973-1975.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố tác động trên bình diện quốc tế, nội tại Hoa Kỳ và thực địa hai miền Nam - Bắc Việt Nam; nội dung và quá trình triển khai chính sách của Hoa Kỳ đối với hai đối tượng chịu tác động trực tiếp là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Việt Nam Cộng hòa (VNCH).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 01/1973 (ký kết Hiệp định Paris) đến ngày 30/4/1975 (chính quyền VNCH sụp đổ hoàn toàn).
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm là không gian nội tại nước Mỹ và không gian chiến tranh tại hai miền Nam - Bắc Việt Nam trong bối cảnh thời kỳ hòa hoãn của Chiến tranh Lạnh (1961-1978).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã khảo sát có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Các công trình chuyên khảo về sự can thiệp của Mỹ: Trần Trọng Trung với Một cuộc chiến tranh sáu đời Tổng thống (1986) và Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (2005); Nguyễn Phương Nam với Về các Tổng thống Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (2016). Các công trình này trình bày tổng quan quá trình hoạch định chiến lược và điều hành chiến tranh qua các đời tổng thống Mỹ.
  • Các công trình tổng kết chiến tranh và lịch sử địa phương: Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị với Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học (1995); Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ Kháng chiến với Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Tập II: 1954-1975 (2010); Ban biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ Kháng chiến với Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập III: 1969-1975 (2010); Nguyễn Văn Nhật (chủ biên) cùng Nguyễn Thị Nguyệt Quang, Đinh Quang Hải với Lịch sử Việt Nam, Tập 13: Từ năm 1965 đến năm 1975 (2014). Các nghiên cứu này làm rõ chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam, diễn biến chiến sự và nhận định bản chất đế quốc của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".
  • Khối tài liệu lưu trữ xuất bản: Bộ Nội vụ - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II với Về Đại thắng mùa xuân năm 1975 qua Tài liệu của chính quyền Sài Gòn (2015) và Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Tập 2: Ký kết và thực thi (2013). Các ấn phẩm này công bố nhiều văn kiện nguyên bản của chính quyền Sài Gòn, phản ánh sự phụ thuộc viện trợ và mâu thuẫn giữa Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ.

Nhóm nghiên cứu quốc tế:

  • Nghiên cứu chính sách qua các đời Tổng thống: Peter A. Pooler (The United States and Indochina from FDR to Nixon, 1973); George C. Herring (America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975, 1979); Stanley Karnow (Vietnam: A History, 1983); David L. Anderson (The Vietnam War, 2005); John Prados (Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945-1975, 2009); Gary R. Hess (Vietnam: Explaining America's Lost War, 2015); Max Hastings (Vietnam: An epic tragedy, 1945-1975, 2018); Sergio Miller (In Good Faith, 2020 và No Wider War, 2021).
  • Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thay đổi chính sách: Luận án tiến sĩ của Thach Hong Nguyen (Vietnam between China & the United States (1950-1995), Đại học New South Wales, 2000) nhấn mạnh quan hệ Mỹ - Trung là nhân tố chính khiến Việt Nam mất vị trí ưu tiên; Jussi Hanhimäki (The Flawed Architect: Henry Kissinger and American Foreign Policy, 2004) phân tích ngoại giao tam giác; Robert Dallek (Nixon and Kissinger - Partners in Power, 2007); Fredrik Logevall và Andrew Preston (Nixon in the World - American Foreign Relations, 1969-1977, 2008).
  • Nghiên cứu quá trình triển khai và sụp đổ của VNCH: Alan Dawson (55 days: The Fall of South Vietnam, 1977); Leslie H. Gelb và Richard K. Betts (The Irony of Vietnam - The System Worked, 1979); Gabriel Kolko (Anatomy of a war: Vietnam, the United States, and the modern historical experience, 1985); Jonathan Aitken (Nixon: A Life, 1993); Larry Berman (No peace, no honor: Nixon, Kissinger, and betrayal in Vietnam, 2001).
  • Nghiên cứu về bối cảnh Chiến tranh Lạnh và nội tình nước Mỹ: Melvyn P. Leffler và Odd Arne Westad (The Cambridge History of the Cold War, 2010); Lê Phụng Hoàng (Lịch sử Quan hệ Quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai, Tập I, 2009); Aleksey Bogaturov và Viktor Averkov (Lịch sử Quan hệ Quốc tế, 2015); Thomas J. McCormick (Nước Mỹ nửa thế kỷ, 2004); Herbert Y. Schandler (Sự nghiệp của một Tổng thống bị đổ vỡ, 1999); Samuel Kernell và Gary C. Jacobson (Lôgích Chính trị Mỹ, 2007); Nguyễn Thái Yên Hương và Lê Mai Phương (Hoa Kỳ - Văn hóa và Chính sách đối ngoại, 2008).

Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn công trình trước đây hoặc chỉ khảo sát tổng thể giai đoạn 1945-1975, hoặc chỉ đề cập giai đoạn 1973-1975 như phần vĩ thanh dựa trên thông tin báo chí đương thời mà chưa khai thác sâu hệ thống tài liệu gốc giải mật. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng chuyên sâu diễn trình 1973-1975 dựa trên nguồn tư liệu đa phương, làm rõ tương tác giữa Hành pháp và Lập pháp Hoa Kỳ trong bối cảnh hòa hoãn quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Luận án dựa trên quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa đế quốc, quan hệ quốc tế trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cùng lý luận về chức năng nhà nước và vai trò của hoàn cảnh lịch sử tác động đến chính sách đối ngoại.

Lý thuyết và khung phân tích:

  • Luận án ứng dụng lý thuyết chủ nghĩa Tân Hiện thực (Neo-realism) trong Quan hệ Quốc tế, nhấn mạnh cấp độ cấu trúc hệ thống quốc tế vô chính phủ và sự phân bổ quyền lực tương đối giữa các quốc gia.
  • Sử dụng khung phân tích chính sách đối ngoại ở ba cấp độ: cấp độ quốc tế (cấu trúc quyền lực, hòa hoãn Xô - Mỹ - Trung), cấp độ quốc gia (tình hình chính trị nội bộ Mỹ, vai trò của Quốc hội và công chúng, suy thoái kinh tế), và cấp độ cá nhân (tính toán chính trị của R. Nixon, H. Kissinger, G. Ford).
  • Khung lý thuyết gắn liền với các khái niệm cốt lõi: cân bằng quyền lực (balance of power), ngoại giao tam giác (triangular diplomacy), và liên kết (linkage).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: Sưu tầm, phân loại, đánh giá nguồn tư liệu, tái hiện khách quan các sự kiện theo trình tự thời gian và phân kỳ lịch sử.
  • Phương pháp logic: Sử dụng thao tác quy nạp và diễn dịch để phân tích nguyên nhân, mối quan hệ bản chất, tính quy luật và hệ quả của các quyết định đối ngoại.
  • Phương pháp phân tích chính sách đối ngoại: Đánh giá quá trình ra quyết định, tương tác giữa nhánh Hành pháp và Lập pháp, cũng như tác động qua lại giữa chủ thể hoạch định chính sách (Hoa Kỳ) và các chủ thể chịu tác động (VNDCCH, VNCH).

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  1. Tài liệu gốc:
    • Nguồn từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: Các tập hồ sơ thuộc bộ Foreign Relations of the United States (1969-1976), trọng tâm là Volume X: Vietnam, January 1973 - July 1975.
    • Nguồn từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước - Tập II (1966-1975), Đại thắng Mùa xuân 1975 - Văn kiện Đảng, tài liệu The Return to War: North Vietnamese Decision-Making, 1973-1975 do George J. Veith biên tập, Merle L. Pribbenow dịch.
    • Nguồn từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa: Hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II công bố trong các tuyển tập Về Đại thắng mùa xuân năm 1975 qua Tài liệu của chính quyền Sài Gòn và Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Tập 2.
  2. Hồi ký chính trị: Hồi ký của các nhân vật tham gia hoạch định chính sách phía Mỹ như No More Vietnams, RN: The Memoirs of Richard Nixon của R. Nixon; Years of Upheaval của H. Kissinger; hồi ký của các tướng lĩnh Việt Nam như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà.
  3. Các công trình nghiên cứu: Sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, bài báo học thuật xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này điểm lại và phân loại toàn diện các công trình nghiên cứu tại Việt Nam và quốc tế về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Tác giả phân tích thành tựu đạt được của các học giả đi trước về việc phác thảo diện mạo chiến lược toàn cầu của Mỹ và bản chất của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Đồng thời, chương 1 chỉ rõ những điểm còn bỏ ngỏ hoặc chưa thống nhất: nhiều công trình nước ngoài quy kết sự sụp đổ của VNCH đơn thuần do vụ bê bối Watergate hoặc xem Việt Nam chỉ là quân cờ trong ngoại giao nước lớn mà xem nhẹ tính chủ động của các lực lượng cách mạng Việt Nam. Tác giả khẳng định sự cần thiết phải khảo sát toàn diện các nhân tố quốc tế, nội bộ Mỹ và tương quan thực địa để làm rõ nguyên nhân thất bại của Mỹ giai đoạn 1973-1975.

Chương 2. Các nhân tố tác động và nội dung những thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam giai đoạn 1973-1975

Chương 2 luận giải các nhân tố tác động đến việc chuyển hướng chính sách của Hoa Kỳ từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970:

  • Bối cảnh quốc tế: Thời kỳ hòa hoãn Chiến tranh Lạnh (1961-1978). Tình trạng "đồng đẳng chiến lược" về vũ khí hạt nhân giữa Liên Xô và Hoa Kỳ được Nixon chính thức thừa nhận tại Hội đồng NATO (tháng 4/1969) và trong thông điệp quốc gia ngày 25/02/1971. Các thỏa thuận kiểm soát vũ khí ra đời (Hiệp ước SALT-I tháng 5/1972, Hiệp định ngăn chặn chiến tranh hạt nhân tháng 6/1973). Chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon (tháng 2/1972) thiết lập thế cân bằng tam giác ngoại giao Mỹ - Xô - Trung, vô hiệu hóa nguy cơ liên minh Xô - Trung và triệt tiêu nền tảng của "thuyết domino". Tại khu vực, ASEAN thành lập (1967) và ra Tuyên bố ZOPFAN (1971) khẳng định xu hướng trung lập hóa, trong khi Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương (1970) siết chặt liên minh chống Mỹ.
  • Tình hình nội bộ Hoa Kỳ: Phong trào phản chiến dâng cao với phong trào Moratorium (ngày 15/10/1969 thu hút 20.000 người ở New York, 30.000 người ở New Haven, 100.000 người ở Boston); vụ nổ súng tại Đại học Kent State ngày 04/5/1970 khiến 4 sinh viên thiệt mạng, 9 người bị thương, kéo theo làn sóng bãi khóa tại hơn 400 trường đại học và cuộc biểu tình 75.000 - 100.000 người ngày 09/5/1970 tại Nhà Trắng. Gánh nặng tài chính tăng vọt (ngân sách quốc phòng cho Việt Nam tăng từ 5,8 tỷ USD năm tài chính 1966 lên 20,1 tỷ USD năm 1967 và 26,5 tỷ USD năm 1968). Quốc hội Mỹ tái khẳng định quyền lực lập pháp, phản đối việc mở rộng chiến tranh qua tiếng nói của các Thượng nghị sĩ J. William Fulbright, Mike Mansfield, Frank Church, Mark Hatfield.
  • Tình hình hai miền Việt Nam: VNDCCH kiên định mục tiêu giải phóng miền Nam, tăng cường chi viện sức người, sức của; trong khi VNCH lâm vào khủng hoảng chính trị, xã hội và kinh tế nghiêm trọng khi quân viễn chinh Mỹ rút đi.
  • Nội dung thay đổi cơ bản: Áp dụng Học thuyết Nixon (Học thuyết Guam 1969), Hoa Kỳ chuyển từ can thiệp quân sự trực tiếp sang gián tiếp; rút toàn bộ quân chiến đấu Mỹ về nước; sử dụng "củ cà rốt kinh tế và cây gậy quân sự"; tận dụng đòn bẩy ngoại giao với Liên Xô và Trung Quốc để gây áp lực với VNDCCH; duy trì chính quyền Sài Gòn bằng viện trợ kinh tế và kỹ thuật quân sự thay thế quân đội Mỹ.

Bảng tổng hợp các số liệu kinh tế - quân sự được luận án thống kê:

Danh mục bảng Nội dung và phạm vi số liệu ghi nhận trong luận án
Bảng 1 Chỉ số giá tiêu dùng của gia đình lao động Sài Gòn giai đoạn 1969-1974 (phản ánh khủng hoảng kinh tế VNCH)
Bảng 2 Chi viện nhân lực từ VNDCCH vào miền Nam Việt Nam giai đoạn 1969-1975
Bảng 3 Viện trợ kinh tế, quân sự của Hoa Kỳ cho VNCH theo năm tài chính giai đoạn 1969-1975
Bảng 4 Tương quan lực lượng của QĐNDVN và QLVNCH vào đầu năm 1975
Biểu đồ 1 Quan điểm của công chúng Hoa Kỳ về sự can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (01/1965 - 01/1973)

Chương 3. Quá trình triển khai chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 01/1973 đến tháng 8/1974

Chương 3 tái hiện diễn trình triển khai chính sách của chính quyền R. Nixon sau Hiệp định Paris:

  • Giai đoạn thực hiện chính sách cân bằng (01 - 4/1973): Hoa Kỳ tiến hành rút quân, trao trả tù binh, thực hiện các biện pháp kiềm chế VNDCCH và cam kết tiếp tục bảo trợ cho VNCH (Thông cáo chung San Clemente tháng 4/1973 sau cuộc gặp giữa Nixon và Nguyễn Văn Thiệu).
  • Giai đoạn từ bỏ chính sách cân bằng (4 - 6/1973): Quốc hội Mỹ gia tăng phản đối, cắt giảm ngân sách quân sự tại Đông Dương và ngăn chặn các hành động tái can thiệp bằng không quân.
  • Giai đoạn cố gắng duy trì sự tồn tại của VNCH (6/1973 - 8/1974): Hoa Kỳ tìm kiếm giải pháp hòa bình tại Campuchia, răn đe ngoại giao đối với VNDCCH và đưa ra các cam kết trấn an Sài Gòn. Tuy nhiên, vụ bê bối Watergate làm suy yếu hoàn toàn quyền lực của Tổng thống Nixon, dẫn đến việc ông phải từ chức vào ngày 09/8/1974, làm tê liệt khả năng can thiệp quân sự trở lại của nhánh Hành pháp.

Chương 4. Quá trình triển khai chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 8/1974 đến tháng 4/1975

Chương 4 phân tích sự bất lực và sụp đổ hoàn toàn trong chính sách của chính quyền Gerald Ford:

  • Những khó khăn mới: Chính quyền G. Ford phải đối mặt với một Quốc hội do Đảng Dân chủ kiểm soát kiên quyết cắt giảm viện trợ cho Sài Gòn, cùng tình hình lạm phát, suy thoái kinh tế sau khủng hoảng dầu mỏ.
  • Nỗ lực duy trì cam kết và vận động viện trợ bất thành (8/1974 - 3/1975): Mặc dù chính quyền Ford tiếp tục hứa hẹn ủng hộ VNCH và nỗ lực vận động Quốc hội phê chuẩn các gói viện trợ bổ sung, Quốc hội đã bác bỏ yêu cầu cấp thêm 300 triệu USD viện trợ khẩn cấp. Chiến thắng Phước Long (tháng 01/1975) của lực lượng cách mạng cho thấy rõ thực tế Hoa Kỳ không còn khả năng can thiệp bằng quân sự.
  • Thất bại chính sách và chiến dịch di tản (27/3 - 29/4/1975): Trước đòn tiến công chiến lược của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ quyết định từ bỏ chính sách duy trì VNCH, chuyển trọng tâm sang tổ chức di tản nhân viên Mỹ và người tị nạn (Chiến dịch Frequent Wind kết thúc ngày 29-30/4/1975), chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về phương diện khoa học:

  • Luận án là công trình sử học chuyên sâu, toàn diện tại Việt Nam nghiên cứu về giai đoạn kết thúc của chính sách Hoa Kỳ đối với Việt Nam (1973-1975).
  • Phân tích có hệ thống các nhân tố quốc tế (xu thế hòa hoãn Chiến tranh Lạnh, quan hệ tam giác Mỹ - Xô - Trung), nhân tố nội tại nước Mỹ (khủng hoảng kinh tế, phong trào phản chiến, xung đột Hành pháp - Lập pháp, vụ Watergate) tác động đến quá trình điều chỉnh và thực thi chính sách của hai chính quyền R. Nixon và G. Ford.
  • Đánh giá khách quan, toàn diện bản chất cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ tiến hành.
  • Hệ thống hóa và xử lý một khối lượng tư liệu gốc đa phương quy mô lớn từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (FRUS Volume X), Văn kiện Đảng Lao động Việt Nam và hồ sơ lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

Đóng góp về phương diện thực tiễn:

  • Làm sâu sắc nhận thức về cơ chế vận hành chính trị nội bộ Hoa Kỳ, đặc biệt là sự phân định và cân bằng quyền lực giữa Tổng thống và Quốc hội trong việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại.
  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có hệ thống, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các chuyên ngành: Lịch sử Thế giới, Quan hệ Quốc tế, Chính trị học, Châu Á học và Quốc tế học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu bị giới hạn trong khung thời gian hẹp (01/1973 - 04/1975), tập trung chủ yếu vào mối quan hệ tác động qua lại giữa Hoa Kỳ với hai chủ thể VNDCCH và VNCH.
  • Nguồn tư liệu chủ yếu tập trung vào quan hệ song phương và cơ chế đối ngoại của Mỹ, chưa mở rộng khai thác sâu hệ thống tư liệu lưu trữ ngoại giao đa phương từ các đồng minh khác của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á trong cùng thời điểm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh việc triển khai Học thuyết Nixon tại chiến trường Việt Nam với các khu vực ngoại vi khác của Chiến tranh Lạnh trong thập niên 1970.
  • Tiếp tục khảo cứu tác động lâu dài của "hội chứng Việt Nam" đối với các quyết định can thiệp quân sự của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các ngành Lịch sử Thế giới, Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Quan hệ Quốc tế, Chính trị học, Quốc tế học và Châu Á học.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, chuyên gia phân tích chính sách đối ngoại muốn tìm hiểu cơ chế ra quyết định và sự tương tác giữa nhánh Hành pháp và Lập pháp trong nền chính trị Hoa Kỳ.
  • Các phần đáng tham khảo nhất gồm: Hệ thống tư liệu gốc từ FRUS Volume X và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II; khung phân tích chính sách đối ngoại ba cấp độ kết hợp lý thuyết Tân Hiện thực; và bức tranh chi tiết về các giải pháp di tản trong tháng 4/1975.

Câu hỏi thường gặp

1. Những nhân tố quốc tế cốt lõi nào đã làm thay đổi vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn 1973-1975? Trong giai đoạn hòa hoãn của Chiến tranh Lạnh (1961-1978), sự cân bằng vũ khí hạt nhân Xô - Mỹ (được xác lập qua SALT-I năm 1972) và việc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung qua chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon (1972) đã giúp Hoa Kỳ hóa giải nguy cơ đối đầu trực tiếp với hai cường quốc xã hội chủ nghĩa. Quan hệ quốc tế chuyển dịch sang thế cân bằng tam giác ngoại giao, khiến lý thuyết domino không còn cơ sở tồn tại, làm cho vị trí địa - chiến lược của Việt Nam trong chính sách ngăn chặn của Mỹ bị suy giảm từ trung tâm xuống ngoại vi.

2. Học thuyết Nixon đã định hình sự thay đổi chính sách của Mỹ tại Việt Nam như thế nào? Được công bố từ năm 1969 (Chủ thuyết Guam), Học thuyết Nixon chuyển từ can thiệp quân sự trực tiếp sang cung cấp viện trợ tài chính, kinh tế và phương tiện kỹ thuật để quân đội bản địa tự gánh vác trách nhiệm tác chiến ("Việt Nam hóa chiến tranh"). Sau Hiệp định Paris (1973), Mỹ rút toàn bộ quân đội viễn chinh về nước và sử dụng đòn bẩy ngoại giao nước lớn kết hợp viện trợ nhằm duy trì chế độ Sài Gòn mà không phải trực tiếp đổ máu lính Mỹ.

3. Quốc hội Hoa Kỳ đã tác động như thế nào đến sự thất bại của chính quyền Nixon và Ford trong việc bảo trợ cho chính quyền Sài Gòn? Quốc hội Mỹ, đứng đầu là các nghị sĩ phản chiến như Fulbright, Mansfield, Church, Hatfield, đã quyết liệt sử dụng quyền lập pháp và ngân sách để ngăn chặn tái can thiệp. Quốc hội liên tục cắt giảm các khoản viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH trong các năm tài chính 1973-1975, ban hành các điều khoản cấm chi tiêu quân sự tại Đông Dương và bác bỏ đề xuất viện trợ khẩn cấp 300 triệu USD của Tổng thống Ford vào đầu năm 1975, khiến chính quyền VNCH suy sụp nhanh chóng về tiềm lực và tinh thần.

4. Luận án dựa trên những nguồn tài liệu gốc cơ bản nào để phục dựng quá trình triển khai chính sách? Luận án khai thác ba khối tài liệu gốc: (1) Hồ sơ ngoại giao giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ in trong bộ Foreign Relations of the United States (1969-1976), Volume X: Vietnam, January 1973 - July 1975; (2) Văn kiện Đảng Lao động Việt Nam trong các tuyển tập Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước (1966-1975) và Đại thắng Mùa xuân 1975; (3) Khối tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn do Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II tuyển chọn và xuất bản.

5. Vụ bê bối Watergate đóng vai trò như thế nào trong sự đổ vỡ chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam? Vụ bê bối Watergate đã làm suy giảm nghiêm trọng uy tín chính trị và quyền lực hành pháp của Tổng thống Nixon, khiến ông mất khả năng đối trọng với Quốc hội. Tình trạng tê liệt quyền lực dẫn đến việc Nixon phải từ chức ngày 09/8/1974, vô hiệu hóa hoàn toàn các cam kết bảo trợ quân sự bí mật trước đó cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng cách mạng Việt Nam nắm bắt thời cơ mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thanh Tâm là công trình sử học chuyên khảo đã phục dựng một cách toàn diện và khách quan quá trình điều chỉnh cũng như triển khai chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong giai đoạn 1973-1975. Dưới lăng kính lý thuyết Tân Hiện thực và phương pháp phân tích chính sách đối ngoại ba cấp độ, tác giả chứng minh sự thất bại nhanh chóng của Mỹ tại Việt Nam là hệ quả tất yếu từ sự thay đổi cục diện hòa hoãn quốc tế, những xung đột sâu sắc giữa nhánh Hành pháp và Lập pháp tại Washington, cùng cuộc khủng hoảng nội tại toàn diện của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Công trình đã bổ khuyết khoảng trống tư liệu lịch sử ngoại giao giai đoạn 1973-1975 tại Việt Nam, đồng thời khẳng định tính tất yếu và nghệ thuật nắm bắt thời cơ chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để giành toàn thắng vào mùa xuân năm 1975.