Luận văn: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

Tìm hiểu thực trạng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội cùng các giải pháp cải thiện hiệu quả trong thời gian tới.

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là những biện pháp, quy định do nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV phát triển bền vững. Tại Hà Nội, chính sách hỗ trợ DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giảm nghèo. Theo nghiên cứu từ Học viện Chính sách và Phát triển, DNNVV hiện chiếm trên 90% số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố. Những chính sách này bao gồm hỗ trợ tài chính, tư vấn kinh doanh, đào tạo kỹ năng và hỗ trợ thủ tục hành chính. Sự hiệu quả của thực hiện chính sách hỗ trợ phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội và chính bản thân các doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ DNNVV Hà Nội là cấp thiết trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay.

1.1. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu chí quốc tế

Theo tiêu chí của Liên Hợp Quốc, DNNVV được phân loại dựa trên số lượng lao động và doanh thu hàng năm. Doanh nghiệp nhỏ có từ 10-49 nhân viên với doanh thu dưới 3 triệu USD, trong khi doanh nghiệp vừa có 50-249 nhân viên với doanh thu từ 3-15 triệu USD. Tại Việt Nam và Hà Nội, tiêu chí phân loại DNNVV dựa trên vốn điều lệ và số lượng lao động, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế địa phương.

1.2. Vai trò kinh tế và xã hội của DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Hà Nội, đóng góp khoảng 35-40% giá trị sản xuất toàn thành phố. Chúng tạo ra hàng triệu việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao mức sống người lao động. DNNVV Hà Nội còn là nguồn đóng góp thuế quan trọng cho ngân sách địa phương, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng.

II. Thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ DNNVV Hà Nội hiện nay

Việc triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2017-2022 đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Số lượng DNNVV thành lập mới tăng đều đặn, đặc biệt từ năm 2020 trở đi. Tuy nhiên, thực trạng thực hiện chính sách vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chính sách hỗ trợ chưa đạt hiệu quả cao do thiếu sự phối kết hợp tốt. Thông tin về chính sách hỗ trợ DNNVV chưa được cung cấp rộng rãi đến các doanh nghiệp, đặc biệt là ở các quận ngoài trung tâm. Các biện pháp hỗ trợ tài chính còn hạn chế, với lãi suất ưu đãi chưa đủ cạnh tranh. Hỗ trợ phí thành lập doanh nghiệp mới trong giai đoạn 2018-2020 đạt một số thành tựu nhất định nhưng cần cải thiện hơn nữa.

2.1. Tình hình phát triển DNNVV Hà Nội trong giai đoạn 2017 2022

Theo dữ liệu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng trưởng bình quân 8-10% hàng năm. Doanh nghiệp thành lập mới đạt đỉnh vào năm 2022 với hơn 15.000 doanh nghiệp, tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động chỉ chiếm khoảng 60% tổng số thành lập. Lĩnh vực dịch vụ, bán lẻ và sản xuất chiếm tỷ trọng lớn nhất trong DNNVV Hà Nội.

2.1. Những tồn tại chính trong thực hiện chính sách hỗ trợ DNNVV

Chính sách hỗ trợ DNNVV Hà Nội vẫn gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp. Nhiều DNNVV chưa biết đến các chương trình tài trợ, hỗ trợ kỹ năng quản lý. Cơ chế thực hiện chính sách giữa UBND quận huyện, các sở ban ngành còn chồng chéo. Năng lực của đội ngũ cán bộ hỗ trợ DNNVV chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

III. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách hỗ trợ DNNVV

Hiệu quả của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Từ phía chính sách, sự thiếu hợp nhất trong thực hiện chính sách giữa các cấp chính quyền là nguyên nhân chính. Các quy định pháp luật chưa đồng bộ, một số chính sách hỗ trợ DNNVV chưa phù hợp với thực tế thị trường hiện tại. Năng lực tài chính của địa phương hạn chế trong việc cấp vốn ưu đãi cho DNNVV. Từ phía doanh nghiệp, sự thiếu hiểu biết về chính sách hỗ trợ và khả năng tiếp cận thông tin kém là những trở ngại chính. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng quản lý của DNNVV còn yếu, dẫn đến khó khăn trong việc tận dụng các hỗ trợ này.

3.1. Những hạn chế về thể chế và pháp lý

Chính sách hỗ trợ DNNVV tại Hà Nội còn thiếu sự nhất quán giữa các cấp chính quyền và các sở ban ngành. Các quy định thực hiện thường thay đổi, gây nhầm lẫn cho DNNVV. Thủ tục hỗ trợ còn phức tạp, tốn thời gian. Một số chính sách cũ không còn phù hợp với bối cảnh kinh tế số hoá hiện nay.

3.2. Khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của DNNVV

Nhiều DNNVV, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, chưa biết đến các chính sách hỗ trợ có sẵn. Kênh thông tin về chính sách chưa đa dạng và hiệu quả. Hỗ trợ tư vấn cho DNNVV về chính sách còn thiếu, dẫn đến DNNVV không thể tối đa hóa lợi ích từ các chính sách hỗ trợ này.

IV. Giải pháp cải thiện hiệu quả chính sách hỗ trợ DNNVV Hà Nội

Để nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội, cần thực hiện những giải pháp toàn diện. Trước tiên, cần hoàn thiện khung pháp lý, thực hiện chính sách một cách nhất quán và transparent. Cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, lập ra một trung tâm hỗ trợ DNNVV thống nhất để thực hiện chính sách hiệu quả hơn. Thứ hai, cần đẩy mạnh tuyên truyền và cung cấp thông tin về chính sách hỗ trợ thông qua các kênh đa phương tiện, đặc biệt là các nền tảng số. Thứ ba, cần tăng ngân sách cho hỗ trợ tài chínhhỗ trợ tư vấn cho DNNVV, đặc biệt hỗ trợ cho các lĩnh vực chiến l略c. Cuối cùng, cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách thông qua đào tạo và tập huấn.

4.1. Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ

Hà Nội cần thực hiện chính sách thông qua một bộ quy định rõ ràng, nhất quán từ cấp thành phố đến cấp quận huyện. Chính sách hỗ trợ DNNVV cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với thực tế thị trường. Cần lập trung tâm hỗ trợ DNNVV tập trung để thực hiện chính sách một cách chuyên nghiệp, giảm bớt sự chồng chéo giữa các cơ quan.

4.2. Nâng cao hiệu quả truyền thông và tuyên truyền chính sách

Cần xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện, sử dụng các kênh truyền thông đa phương tiện như website, mạng xã hội, video để tuyên truyền chính sách hỗ trợ DNNVV. Hỗ trợ tư vấn miễn phí cần được cung cấp rộng rãi giúp DNNVV hiểu rõ các chính sách hỗ trợ và cách tiếp cận chúng một cách hiệu quả nhất.

28/12/2025
Chuyên ngành chính sách công thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho đến nay chưa có một khái niệm cụ thể về DNNVV, mà tùy thuộc vào đặc điểm từng quốc gia, từng giai đoạn kinh tế để đưa ra cách hiểu chung nhất về DNNVV. Một cách chung nhất, có thể hiểu DNNVV là một loại hình DN có quy mô tương đối nhỏ trong hệ thống DN của một quốc gia.

Các quốc gia thường căn cứ vào quy mô về vốn, số lao động hoặc một số thông tin tài chính như tổng doanh thu, tổng nguồn vốn,. để xác định loại hình DN này. Ở nước ta, Điều 4 Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 quy định: “1. DNNVV bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.

DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.” Để cụ thể hóa tiêu chí để xác định DNNVV, Điều 5 Nghị định số 80/2021/NĐ- CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định: “1. DN siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. DN siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. DN nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm 15 không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

DN nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. DN vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ, DN nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. DN vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ, DN nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này”. 1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo lao động, doanh thu và nguồn vốn DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Ngành/ lĩnh Số lao Doanh Nguồn Số lao Doanh Nguồn Số lao Doanh Nguồn vực động thu (tỷ vốn động thu (tỷ vốn động thu (tỷ vốn (người) đồng) (tỷ (người) đồng) (tỷ (người) đồng) (tỷ đồng) đồng) đồng) Nông nghiệp, lâm nghiệp < 10 <3 <3 < 100 < 50 < 50 < 200 < 200 < 100 và thủy sản; Công 16 nghiệp và xây dựng Thương mại và < 10 < 10 <3 < 50 < 100 < 50 < 100 < 300 < 100 dịch vụ Nguồn: Sách trắng DN Hà Nội năm 2022 1.

Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Đặc điểm của các DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô của DN. Những đặc điểm cơ bản của các DNVVN thể hiện như sau: - Quy mô vốn và lao động nhỏ, vì vậy DNVVN thường có điểm mạnh là dễ khởi sự và tính linh hoạt cao, có các lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Tuy nhiên, đây thường là những DN khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm này làm cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn do không có lợi thế kinh tế theo quy mô.

Mặt khác, do rất dễ khởi nghiệp nên DNNVV cũng phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh. Với quy mô nhỏ và vừa, các DN này cũng dễ thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điều kiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, cơ khí và bán cơ khí để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư có thu nhập khác nhau. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các DNNVV, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các DNNVV. Ngoài ra, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN thường ngắn, dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho DN kinh doanh hiệu quả.

- Khả năng quản lý còn hạn chế do các chủ DN thường là những kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành DN. Họ vừa là người quản lý DN vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Một bộ phận lớn chủ DN chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh. 17 - Trình độ tay nghề của người lao động thấp: Các chủ DNVVN không đủ khả năng cạnh tranh với các DN lớn trong việc thuê những người lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính.

Người lao động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ năng thấp. Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các DNVVN, các chính sách đãi ngộ hấp dẫn và cơ hội để phát triển thấp khó thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như những người lao động giỏi tại các DN này cũng tác động làm cho nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc cho khu vực này. Do vậy, DNVVN hiện nay rất thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng. - Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai.

Nhiều DNVVN có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các DN lớn mua với giá rẻ. Tuy nhiên, các DNVVN rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây truyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các DNVVN có thể tồn tại trên thị trường. - DNNVV cũng thường sản xuất kinh doanh theo cách tự phát, khả năng liên kết còn hạn chế.

Quản trị nội bộ của các DNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính, ý thực chấp hành các chế độ chính sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề. - Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNVVN thường là những DN mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các DN này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.

Tuy nhiên, DNVVN lại rất có lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều lao động, DNVVN có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần 18 cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, việc phát triển DNVVN còn có lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, qua đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển kinh tế Trong khuôn khổ một bài luận văn tôi xin trình bày một cách khái quát vai trò của DNNVV đối với phát triển kinh tế. Cả lý thuyết và thực tiễn cho thấy, vai trò của DNNVV có những vai trò chủ yếu và quan trọng như sau: Thứ nhất, DNNVV tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp.

Do các DNNVV tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dạng các sản phẩm nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền khác nhau. Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng được cả lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chưa phát triển. Đặc biệt, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trong khi các DN lớn thường phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNNVV, với tính chất linh hoạt và năng động của mình, có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công, hoặc có thể nhanh chóng thu hút lại lực lượng lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi. Thứ hai, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ