đặt vấn đề “vì sao một số giàu đến thế mà một số lại nghèo đến thế”. Đặc biệt, chƣơng trình XĐGN đã đƣợc nghiên cứu và đƣa vào nội dung hoạt động thƣờng xuyên của Chƣơng trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) ở các quốc gia và khu vực cũng nhƣ toàn thế giới. Tại Việt Nam, vấn đề XĐGN đƣợc quan tâm bắt đầu từ sáng kiến của thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1992. Từ mô hình sáng kiến này, đến nay đã 5 z trở thành phong trào sâu rộng, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và đã trở thành chƣơng trình mục tiêu Quốc gia lớn hiện nay.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu về XĐGN nhƣ các đề tài do Bộ lao động -Thƣơng binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) chủ trì: Đói nghèo ở Việt Nam, Hà Nội, 1993; Nhận diện đói nghèo ở nước ta, Hà Nội, 1993; Xoá đói giảm nghèo, Hà Nội, 1996. Tác giả Nguyễn Thị Hằng, với Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay. (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Với khả năng thâm nhập thực tế và lí luận sắc sảo, tác giả đã đánh giá một cách khá đầy đủ về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, đồng thời mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cơ bản về XĐGN ở nông thôn nƣớc ta.
Với tác phẩm Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, (Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội 2001), Lê Xuân Bá và các cộng sự đã phản ánh tổng quan về sự nghèo đói trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam; đƣa ra vấn đề xây dựng các tiêu chí đánh giá về nghèo đói hiện nay, đồng thời trình bày một số kết quả nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình, qua đó, đƣa ra một số quan điểm, giải pháp chung về XĐGN ở Việt Nam. Trần Thị Hằng với Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. (Nhà xuất bản Thống kê. Hà Nội, ấn hành năm 2001).
Tác giả đề cập đến những vấn đề thuận lợi và thách thức đối với công cuộc XĐGN trong bối cảnh kinh tế thị trƣờng; đặt ra những yêu cầu về đòi hỏi tính năng động, sáng tạo của những nhà quản lí cũng nhƣ các chủ thể của các chính sách giảm nghèo. Lê Quốc Lý với tác phẩm Chính sách xoá đói giảm nghèo - thực trạng và giải pháp, (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội 2012), tác giả đã đƣa ra một số lý luận về vấn đề XĐGN; phân tích thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; đề xuất những vấn đề cần thiết cho việc thực hiện chính sách XĐGN ở 6 z Việt Nam giai đoạn 2001 - 2020, cùng một số giải pháp XĐGN ở Việt Nam trong thời gian tới. Một số luận án, luận văn của các chuyên ngành liên quan trong thời gian qua cũng đã đề cập đến vấn đề này, nhƣ: Trần Thị Mai Hƣơng trong Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012, cũng đã đƣa ra cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững và các tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hƣởng đến vấn đề Giảm nghèo bền vững ở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng.
Phan Văn Đƣơng cũng đƣa ra một số giải pháp Giảm nghèo trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam qua Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2013, trên cơ sở đƣa ra một số vấn đề lý luận chung về nghèo đói và tiêu chí xác định chuẩn nghèo, nội dung giảm nghèo ở một đơn vị cấp huyện. Trên địa bàn tỉnh Nghệ An, một số tác giả đã đi vào nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề trên một số địa bàn cụ thể, đó là: Trần Quốc Chung với đề tài Vai trò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi vùng cao (Luận văn thạc sĩ 2010, Trƣờng đại học Kinh tế Quốc dân). Tác giả cũng đã trình bày một số vấn đề lý luận về công tác XĐGN, đặc điểm các huyện miền núi vùng cao trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững trong tình hình hiện nay; làm rõ sự cần thiết và khách quan về việc tăng cƣờng vai trò của Nhà nƣớc đối với công tác XĐGN nói chung, trong thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi, vùng cao nói riêng thông qua việc nghiên cứu thực tế tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Với vấn đề Đầu tư xóa đói giảm nghèo ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2015 (Luận văn thạc sĩ, Trƣờng đại học Kinh tế Quốc dân, 7 z Hà Nội 2011), tác giả Lê Huy Vinh đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận về việc đầu tƣ cho công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn một huyện miền núi; phân tích thực trạng đói nghèo của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện giai đoạn 2006 - 2015.
Tác giả Phạm Thị Lƣu Chuyền (học viên cao học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) trong Luận văn thạc sĩ, 2014 cũng đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nƣớc trong công tác XĐGN; phân tích, đánh giá thực trạng công tác giảm nghèo của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong thời gian từ 2006 đến 2014; nêu nguyên nhân của những mặt tốt, mặt hạn chế và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt hơn việc giảm nghèo trong giai đoạn 2015 - 2020 của địa phƣơng qua đề tài Giảm nghèo ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã trình bày khá phong phú những vấn đề về lí luận. Một số tác giả đi sâu phân tích vấn đề về xóa đói, giảm nghèo ở các địa bàn dƣới nhiều góc độ khác nhau. Các tác giả cũng đã khá tập trung và thống nhất trong nhận thức về một số khái niệm, một số tiêu chí xác lập; một số nguyên nhân chính dẫn tới đói nghèo và một số đề xuất chung khá thuyết phục.
Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo ở huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An thì chƣa có tác giả nào nghiên cứu, đề cập. Từ thực tiễn, trong quá trình thực hiện luận văn, Tác giả học tập, tiếp thu, kế thừa lý luận XĐGN, kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách XĐGN ở một số địa phƣơng, trên những mặt thành công, chƣa thành công, rút ra bài học kinh nghiêm, để làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu hoàn thành luận văn. Cơ sở lí luận về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo 1. Khái niệm nghèo Nghèo là khái niệm đã đƣợc xuất hiện từ khá sớm trên thế giới, để chỉ mức sống thấp hơn của một ngƣời, nhóm dân cƣ, một cộng đồng, một quốc 8 z gia so với mức sống của một cộng đồng hay các quốc gia khác.
Không có một chuẩn mực chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia. Chuẩn mực nghèo đói cũng thay đổi theo thời gian. Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (9/1993) đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [28, tr.186] Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995, đã đƣa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói nhƣ sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại"(Nguồn: Hội nghị thƣợng đỉnh về phát triển xã hội ở Copenhagen - Đạn Mạch, năm 1995). Từ những vấn đề trên, nghèo có thể đƣợc nhận diện trên hai khía cạnh sau: - Nghèo đói tuyệt đối, đƣợc lý giải là tình trạng một ngƣời hoặc một hộ gia đình không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (ăn, mặc, ở, đƣợc chăm sóc sức khỏe, đƣợc giáo dục cơ bản và đƣợc hƣởng các dịch vụ cần thiết khác) mà những nhu cầu đó đã đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc.
Một cách diễn đạt khác: một ngƣời hoặc một hộ gia đình đƣợc xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu đƣợc quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định). 9 z - Nghèo đói tương đối, là tình trạng mà một ngƣời hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm ngƣời có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định [28, tr. Nhƣ vậy, phân biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối có thể là: nghèo tuyệt đối đề cập đến các tiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tối thiểu của một con ngƣời, trong khi đó, nghèo tương đối lại nói đến vị trí ở dƣới mức sống phổ biến trong một cộng đồng. Khái niệm xóa đói giảm nghèo Xóa hộ đói là hộ đó cơ bản giải quyết đƣợc cái ăn hàng ngày, không để bị đứt bữa, hạn chế dần việc vay nợ cộng đồng (vay nóng, vay đứng lãi suất cao); xóa hộ đói là không còn hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới 1 triệu đồng/năm tại địa phƣơng.
Giảm hộ nghèo, tức hạ thấp tỷ lệ cũng nhƣ số tuyệt đối các hộ có mức thu nhập bình quân bằng hoặc thấp hơn mức chuẩn nghèo đƣợc quy định, trên cơ sở giải quyết đƣợc việc làm thƣờng xuyên và từng bƣớc đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống gia đình. Hộ vượt chuẩn nghèo, tức hộ đó giải quyết đƣợc việc làm ổn định, có tích lũy; có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời/năm vƣợt qua chuẩn giới hạn nghèo (theo chuẩn nghèo quy định cho từng giai đoạn). Xã nghèo, theo Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo thì xã nghèo có các đặc trƣng sau: Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo của xã - phƣờng chiếm trên 20% số hộ dân của xã - phƣờng.