Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1.1 Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 1.Thanh niên Thanh niên Việt Nam một tầng lớp xã hội rộng lớn, là nguồn nhân lực dồi dào, luôn xung kích đi đầu tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là những người tiên phong, với hoài bão, tiềm năng sáng tạo và có nhiều khát vọng vươn lên lập thân lập nghiệp, làm giàu, phát triển nghề nghiệp, là lực lượng tích cực nhất tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước giàu đẹp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo Luật thanh niên năm 2020 đã quy định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (2014) đã đưa ra quan niệm “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người”. Lê Văn Cầu (2021), “Nghiên cứu tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn về nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 - 2022” đã khẳng định “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo”.
11 Trong nghiên cứu này, tôi quan niệm: Thanh niên là những người trong độ tuổi từ đủ 16 đến 30, là giai đoạn đánh dấu sự phát triển và trưởng thành về sinh học, tâm lý, tình cảm; có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội; có quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc. Việc làm Việc làm luôn là vấn đề xã hội bức xúc của mỗi quốc gia, là mối quan tâm thường trực của Nhà nước và hàng triệu người lao động để cải thiện thu nhập và mức sống của dân cư, là nhiệm vụ quan trọng để phát triển kinh tế, có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội rất lớn góp phần giải quyết việc làm, tạo ra nhiều việc làm và việc làm có thu nhập cao cho người lao động tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Khái niệm việc làm được nhiều nhà kinh tế học, xã hội học quan tâm, nghiên cứu và tìm hiểu dưới nhiều góc độ, phạm vi đối tượng khác nhau của các ngành khoa học như xã hội học, kinh tế học, chính sách công, quản lý công và dựa trên các yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp, phong tục tập quán để hình thành nên các quan niệm về việc làm, tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa chung mang tính khái quát bao trùm về việc làm. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) “người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành, nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội”, khái niệm việc làm được thể hiện qua các văn bản có tính pháp quy của Nhà nước như tại “Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật Lao động năm 2019” và “khoản 2 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013” quy định “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”, từ cách tiếp cận của tác giả nhận thấy nội hàm của khái niệm việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố sau: 12 Thứ nhất, việc làm là hoạt động của con người được thể hiện bằng sức lao động tác động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Thứ hai, việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập một cách trực tiếp cho cá nhân người lao động hoặc tạo ra thu nhập gián tiếp cho gia đình, cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, người sử dụng lao động và cho toàn xã hội. Thứ ba, việc làm là các hoạt động lao động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ngành, nghề, mang lại thu nhập bằng vật chất và tinh thần cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm và được pháp luật bảo hộ, góp phần ổn định cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội. *Phân loại việc làm Phân loại theo mức độ sử dụng lao động + Việc làm chính là công việc mà người lao động dành nhiều thời gian, trí tuệ và năng lực để thực hiện hoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác. + Việc làm phụ là những công việc mà người lao động dành nhiều thời gian thực hiện sau khi hoàn thành xong công việc chính.
+ Việc làm hợp lý là những công việc phù hợp với năng lực và sở trường của người lao động để tạo ra thu nhập và được pháp luật cho phép. + Việc làm hiệu quả là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian, trí tuệ, năng lực và tâm huyết để hoàn thành nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công việc, sản phẩm, tiết kiệm kinh phí, đảm bảo chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Phân loại việc làm theo thời gian của người lao động + Việc làm tạm thời được tạo ra trong thời gian người lao động đang tìm một công việc phù hợp với chuyên môn, năng lực và nhu cầu của bản thân. + Việc làm đầy đủ là sự đáp ứng nhu cầu về việc làm cho người lao động trong nền kinh tế căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động theo quy định của Nhà nước và dựa trên năng suất lao động và thu nhập của người lao động.
13 + Thiếu việc làm là tình trạng có việc làm nhưng người lao động làm việc không hết thời gian theo quy định của Nhà nước hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, có nhu cầu muốn tìm thêm việc làm, được thể hiện dưới hai khía cạnh là người lao động làm việc với thời gian ít hơn quy định của Nhà nước và không đủ việc làm, có nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm; khía cạnh thứ hai là người lao động có đủ việc làm và làm nhiều thời gian hơn mức quy định của Nhà nước nhưng thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống, có nhu cầu muốn tìm thêm việc làm.Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 1.1 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật và văn bản dưới luật do Chính phủ xây dựng và ban hành nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể. Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2000), Giáo trình Chính sách kinh tế- xã hội” đã khẳng định “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết những vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước”. Học viện Hành chính quốc gia (2018) “Giáo trình Những vấn đề cơ bản của Chính sách công” đã định nghĩa “Chính sách công là phương hướng, cách thức hành động do nhà nước lựa chọn và được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để giải quyết một vấn đề phát sinh trong một giai đoạn nhất định, định hướng cho xã hội phát triển một cách thống nhất theo mong muốn của nhà nước”. 14 Trên cơ sở phân tích, tác giả quan niệm: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Trên cơ sở lý luận về thanh niên và chính sách giải quyết việc làm, trong luận văn này, tác giả quan niệm: Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là tổng thể các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, được Nhà nước ban hành thành các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các mục tiêu và giải pháp hỗ trợ thanh niên tìm việc làm, tạo cơ hội việc làm cho thanh niên nhằm bảo đảm quyền có việc làm và giải quyết việc làm để tạo ra thu nhập cho thanh niên, góp phần ổn định cuộc sống của thanh niên, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế bền vững của đất nước. Giải pháp thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên được quy định tại điều 10 “Nhà nước thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn tín dụng khác”, điều 20 “Hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”, tại điểm a khoản 2 điều 21 “Tư vấn, định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí cho thanh niên” tại Luật việc làm năm 2013; tại khoản 3 điều 17 “Tạo điều kiện cho thanh niên được vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn tín dụng hợp pháp khác để tự tạo việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh”, tại điều 18 “Chính sách về khởi nghiệp cho thanh niên” quy định tại Luật thanh niên năm 2020.