CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN 1. Khái niệm công cụ 1. Đào tạo nghề Đào tạo nghề là hoạt động dạy nghé, hoc nghé nhăm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để mọi người có thể tự tạo việc làm, kiếm việc làm hoặc có cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động và thăng tiến trong nghé nghiệp. Dao tạo nghề gồm đào tạo nghề dài hạn và đào tạo nghề ngắn hạn.
Khoản 2, điều 3 Luật số: 74/2014/QH13: Luật giáo dục nghề nghiệp: Đảo tao nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học đề có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Bên cạnh đó: Dạy nghề còn là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành dé các học viên có được một trình độ, kỹ năng kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Như vậy, dao tạo nghề là hoạt động hướng dẫn, giáo dục nghề nghiệp, học nghề ngắm chuan bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết dé mọi người có thé tự tạo việc làm, kiếm việc cũng như làm tăng cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động và thăng tiến trong công việc. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc duy trì và phát trién nguồn nhân lực.
Đào tạo nghề gồm đào tạo nghé sơ cấp và dao tạo nghề trung cấp[21]. Tại đề tài này, tác giả sử dụng định nghĩa đào tạo nghề Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014, dao tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhăm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc dé nâng cao trình độ nghề nghiệp. Việc làm Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [20]. 17 Tại Việt Nam, theo hiến pháp năm 2013, Nhà nước đã khăng định quyền làm việc, được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân (Khoản 1, Điều 35), thừa nhận là một quyền tự nhiên của con người, được Nhà nước bảo đảm, hoàn toàn phù hợp với tinh thần chung của Công ước số 122 - Công ước về chính sách việc làm mà Việt Nam chuẩn bị tham gia.
Khoản 1 và 2, điều 9 cùng bộ Luật Lao Động cũng đã quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm; Nhà nước, nguoi sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm. Việc làm đóng một vai trò quan trọng ở các khía cạnh về kinh tế, xã hội, chính sách và quốc gia. Về kinh tế, hiệu quả của việc làm sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, giải quyết được van đề về thất nghiệp và ngược lại, nếu như không giải quyết được vấn đề thiếu việc làm và thất nghiệp thì sẽ dẫn tới việc kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Về xã hội, có việc làm sẽ làm giảm sự xuất hiện của các tệ nạn xã hội, người lao động sẽ tạo được ra giá tri riêng của bản thân mình, thời gian và công sức sẽ được sử dụng với mục đích lao động nhiều hơn.
Tương tự, giải quyết được vấn đề về việc làm với mỗi quốc gia là nhiệm vụ quan trọng nên các chính sách việc làm và giải quyết việc làm luôn được chú trọng trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bao đàm việc làm, BHXH,. Những chính sách việc làm không chỉ giải quyết được vấn đề thất nghiệp mà còn góp phan bảo dam an toàn, ồn định và phát triển xã hội. Như vậy, dựa theo điều luật được quy định tại Việt Nam và ILO, định nghĩa “việc làm” được tác giả sử dụng trong đề tài là “những hoạt động lao động tạo ra thu nhập và được nhà nước cũng như pháp luật công nhận là hợp pháp”.
Thanh niên Theo Điều | - Luật số 57/2020/QH14, Luật Thanh niên: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Thanh niên chính là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đâu trong công cuộc đôi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ 18 quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bố sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Như vậy, trong dé tài luận văn này, Khái niệm thanh niên trong nghiên cứu được hiểu là nhóm xã hội có độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi.
Họ cũng chính là lực lượng lao động xã hội chính của xã hội trong tất cả các lĩnh vực. Dân tộc thiểu số Theo nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra một số định nghĩa liên quan đến dân tộc thiểu số như sau: - Dân tộc thiểu số: “là những dân tộc ít người hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Dân tộc đa số là “dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước” - Dân tộc thiểu số rat ít người “là dan tộc có dân số dưới 10. - _ Vùng dân tộc thiêu số: “là địa ban có đông các dân tộc thiêu số cùng sinh sống ồn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [3] Bên cạnh đó, dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt được xác nhận là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau: (1) Tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước; (2) Các chỉ số phát triển về giáo dục đảo tạo, sức khoẻ cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước; (3) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiêu phục vu đời sống dân cư.
Tại luận văn này, tác giả xác định “dân tộc thiểu số” là nhóm người có số lượng ít hơn nhóm người đa số trong xã hội đó. Họ sống cùng nhau có đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, có đặc trưng riêng. Họ thường sinh sống ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, thường gặp nhiều bat lợi trong việc tiếp cận với các dịch vụ về y tẾ, giáo dục. Người khuyết tật Công ước Quốc tế các quyền của người khuyết tật (2006) đã nêu rõ: “Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, 19 thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thê cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” Tại Việt Nam, theo Luật số: 51/2010/QH12 Luật Người Khuyết Tat: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Cũng tại bộ Luật này, khuyết tật được chia làm các dạng bao gồm: (1) Khuyét tật vận động: (2) Khuyét tật nghe, nói; (3) Khuyét tật nhìn; (4) Khuyét tat thần kinh, tâm thần; (5) Khuyết tật trí tuệ; (6) Khuyết tật khác. Người khuyết tật được chia thành ba mức độ: - Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thé tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; - Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thé tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; - Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tai điểm a và điểm b khoản này. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết hoặc suy giảm chức năng ở một hoặc nhiều bộ phận, khiến họ gặp khó khăn trong cuộc sống, gặp nhiều bat lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực trong xã hội so với những người không khuyết tật khác. Thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số trong nghiên cứu này được hiểu là những cá nhân có độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi; là người bị khiếm khuyết hoặc suy giảm chức năng ở một hoặc nhiều bộ phận, khiến họ gặp khó khăn trong cuộc sống, gặp nhiều bất lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực trong xã hội so với những người không khuyết tật khác.
Họ là số ít trong nhóm xã hội mà họ đang sinh sống, đồng thời, nhóm xã hội này là ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Họ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội. Thanh niên khuyết tật người dân tộc thiểu số Thanh niên khuyết tật dân tộc thiểu số trong nghiên cứu này được hiểu là những cá nhận có độ tuôi từ 15 đến 30 tuổi. Họ là đối tượng bị khiếm khuyết hoặc suy giảm chức năng ở một hoặc nhiều bộ phận, khiến họ gặp khó khăn trong cuộc sống, gặp 20 nhiều bất lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực trong xã hội so với những người không khuyết tật khác.
Họ sinh sống ở các vùng núi có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn và thiếu thốn. Các cá nhân là người thuộc nhóm dân tộc thiểu số, có số lượng ít hơn nhóm đa số trong xã hội, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội.