CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU VỀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. LAO ĐỘNG VÀ LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU VỀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm lao động và việc làm 1. Khái niệm lao động Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế, “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người [4].
Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của XH loài người, là cơ sở cua sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã hội. Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển KT – XH. Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Theo Bộ Luật lao động (2012) thì lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (nam có độ tuổi từ 16 – 60, nữ có độ tuổi từ 16 – 55). Trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người đang thất nghiêp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
[10] Như vậy có thể hiểu lao động là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi người lao động. Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất. Khái niệm việc làm Cùng với quá trình phát triển KT - XH, khái niệm việc làm đã có nhiều thay đổi tùy thuộc vào từng thời điểm, không gian và cách tiếp cận.
12 Theo quan niệm của Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”. Theo quan niệm của Mác thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới việc thiếu việc làm hay mất việc làm. Như vậy, việc làm là một phạm trù KT- XH, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho tạo việc làm.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Người có việc làm là người đang làm việc trong lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và g ia đình đồng thời góp phần cho xã hội”. Ở Việt Nam, cùng với việc thiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam đã chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Theo khái niệm trên, những hoạt động được gọi là việc làm phải thỏa mãn hai điều kiện sau: - Phải là hoạt động tạo thu nhập một cách trực tiếp cho cá nhân người lao động hoặc tạo ra thu nhập gián tiếp cho gia đình và xã hội. Điều kiện này cho thấy sự thay đổi quan niệm về tạo việc làm trước đây trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, việc làm được quan niệm rất hẹp, chỉ có việc làm trong khu vực nhà nước mới được thừa nhận; trong nền kinh tế thị trường, khái niệm này mở rộng nhiều, việc làm không chỉ tồn tại trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mà còn ngay tại gia đình, do chính bản thân lao động tạo ra để có thu nhập.
- Phải là hoạt động không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm, được pháp luật bảo hộ. Nó cũng cho thấy một sự thay đổi nữa, đó là giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn của các doanh nghiệp và của toàn xã hội. 13 Như vậy, việc làm là các hoạt động mang lại thu nhập cho người lao động, không bị pháp luật cấm, bao gồm: - Các công việc được trả công dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật; - Các công việc tự làm để tạo thu nhập cho bản thân hoặc tạo nhu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền mặt hoặc hoặc hiện vật) cho công việc, gọi đó là việc làm tự tạo.
Lao động xuất khẩu về nước 1. Người xuất khẩu lao động về nước a. Khái niệm xuất khẩu lao động Hiện nay có nhiều định nghĩa về xuất khẩu lao động. Theo Nguyễn Thị Phương Linh, “Xuất khẩu lao động là sự di chuyển quốc tế sức lao đọng có chủ đích, có mục đích và được pháp luật bảo vệ” [9] Nguyễn Tiệp, “Xuất, nhập khẩu trên thị trường lao động quốc tế là hình thức di chuyển lao động thị trường lao động nước này (hoặc vùng lãnh thổ này) sang một thị trường lao động khác (hoặc vùng lãnh thổ khác) để cung cấp dịch vụ lao động cho nước nhập khẩu và giải quyết công ăn việc làm cho lao đọng của nước xuất khẩu” [15] Theo cách tiếp cận của luận văn thì xuất khẩu lao động được hiểu như sau: Xuất khẩu lao động, thực chất là xuất khẩu hàng hóa sức lao động, đó là sự di chuyển lao động có tổ chức đi làm việc trong thời hạn nhất định ở nước ngoài thông qua các hiệp định về xuất khẩu lao động và các thỏa thuận khác giữa các quốc gia nhận và gửi lao động.
Khái niệm người xuất khẩu lao động về nước Người XKLĐ về nước là những người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài đã hoàn thành thời gian lao động ở nước ngoài ghi trên hợp đồng lao động. Người XKLĐ về nước là một bộ phận của lực lượng lao động nói chung, theo các cuộc điều tra nghiên cứu cho thất lao động đi XKLĐ chủ yếu trong độ tuổi từ 18 – 25 chiếm tỷ lệ cao (khoảng 70 – 80%) do vậy người XKLĐ về nước chủ yếu trong độ tuổi lao động từ 20 – 30 tuổi (chiếm khoảng 60%). Như vậy người XKLĐ 14 về nước là lực lượng lao động có đầy đủ năng lực, thể chất và tinh thần cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đóng góp của người lao động sau khi kết thúc hợp đồng xuất khẩu lao động vào nền kinh tế Bổ sung vào nguồn Lao động có tay nghề, kỹ thuật cho nền kinh tế Người lao động trước khi được đi làm việc ở nước ngoài đã phải trải qua khâu xét tuyển, học tiếng, kiểm tra tai nghề và đào tạo những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của đối tác nước ngoài.
Đặc biệt với đối tượng lao động xuất khẩu thông qua hình thức tu nghiệp sinh, thực tập nâng cao tay nghề thì điều kiện tuyển chọn về trình độ chuyên môn kỹ thuật để đi xuất khẩu lao động là rất cao. Khi làm việc ở nước ngoài những lao động này thông qua quá trình giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, làm việc và sinh hoạt tại nước bản địa đã tự đào tạo mình thêm vốn kiến thức về ngoại ngữ, được tiếp xúc với máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại, từ đó người lao động có thể tích lũy thêm kiến thức về kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu, rèn luyện, nâng cao tay nghề, thông thạo các thao tác, xử lý tình huống trong vận hành máy móc thiết bị đồng thời có thể giao tiếp trong quá trình lao động và làm việc. Và khi trở về nước, trong bối cảnh nguồn nhân lực có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật đang là cơn khát cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì người lao động sau khi kết thúc hợp động XKLĐ được đánh giá là thích hợp với yêu cầu của nhà đầu tư, họ sẽ bổ sung vào nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật. Đồng thời người lao động sau XKLĐ làm tăng khả năng cung cấp nguồn nhân lực tham gia XKLĐ, mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước.
Bổ sung cho đất nước những giá trị văn hóa tiên tiến của nước khác Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hầu hết làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp của các nước có nền công nghiệp phát triển hơn trong nước, do đó cũng là nơi mà có những giá rị văn hóa tích tụ của một xã hội có đời sống sinh hoạt công nghệ tiên tiến, tác phong giao tiếp hiện đại. Vì vậy, khi kết thúc hợp đồng XKLĐ trở về nước, nguồn nhân lực này làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp trong nước sẽ phát huy được những giá trị văn hóa, tác phong làm việc hiện 15 đại tích lũy được trong quá trình làm việc ở nước ngoài. Từ đó góp phần bổ sung và truyền tải những giá trị văn hóa tiên tiến này, cải thiện môi trường làm việc cũng như tác phong làm việc trong nước. Góp phần làm tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế Việc sử dụng người lao động sau XKLĐ chính là một đảm bảo về quan hệ hợp tác trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, mặt khác nảy sinh mối quan hệ đối tác trong các lĩnh vực khác nhau như du lịch, giáo dục đào tạo.
Bởi vì hiện tại, các nhà máy, xí nghiệp tại các khu công nghiệp hầu hết được hình thành do đầu tư từ nước ngoài, yêu cầu về trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cũng như tác phong làm việc của các công ty này là tương đối cao, và người lao động sau khi XKLĐ được đánh giá là hoàn toàn phù hợp. Vì vậy, nguồn nhân lực này luôn được ưu tiên tuyển dụng làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài, từ đó góp phần phát triển quan hệ hợp tác, giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế. Nhiều lao động sau khi về nước trở thành các nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp, tạo việc làm cho một bộ phận lao động khác, đóng góp vào sự phát triển và ổn định kinh tế xã hội.