Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG QUỐC 1. KHÁI NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan đến chính trị và pháp quyền. Chính sách bao gồm: chính sách công và chính sách của các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp. Chính sách công lại bao gồm: chính sách quốc gia và chính sách của các địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã).
Trong phạm vi luận văn này chỉ nghiên cứu về chính sách quốc gia. Chính sách công có thể hiểu là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm. Bên cạnh đó, có rất nhiều khái niệm về chính sách, có thể liệt kê như sau [12, tr. 27]: - Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề.
- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. - Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra. - Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành. - Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân.
Chính sách công là một tập hợp các yếu tố gồm: + Dự định (intentions): mong muốn của chính quyền; + Mục tiêu (goals): dự định được tuyên bố và cụ thể hóa; z 8 + Đề xuất (proposals): các cách thức để đạt được mục tiêu; + Các quyết định hay các lựa chọn (decisions or choices); + Hiệu lực (effects). - Theo Kraft và Furlong đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn. Theo đó, chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình.
Theo Từ điển tiếng Việt [47] "chính sách" được hiểu là "sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…". Theo đó, chính sách cần được hiểu ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền. Từ các khái niệm trên, có thể thấy những từ khóa chính của khái niệm gồm: vấn đề, chính quyền và sự lựa chọn. Có một vấn đề kinh tế-xã hội nào đó xuất hiện.
Chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn đề đó (để cho vấn đề tự phát triển cũng là một cách giải quyết). Sự lựa chọn đưa đến quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó. Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì, chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách.
Chính vì vậy, so với khái niệm pháp luật, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều. Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây: z 9 - Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn.
Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được "nhào nặn" bởi "bàn tay công quyền", tức là được ban hành bởi nhà nước theo một trình tự luật định. - Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công - nhà nước. Ở Việt Nam, Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của Đảng thành pháp luật, nhưng cũng là một bước xây dựng và hoàn thiện chính sách.
Vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù rất gần gũi và có những điểm giao nhau, là cơ sở tồn tại của nhau trong một chế độ nhà nước pháp quyền. Có thể chỉ ra những đặc trưng và cũng là sự khác biệt giữa chính sách và pháp luật ở những điểm sau: - Nếu chính sách là những tư tưởng, định hướng, những mong muốn chính trị được thể hiện trong các nghị quyết, các văn kiện của giai cấp cầm quyền, thì pháp luật được thể hiện bằng các quy tắc xử sự mang tính pháp lý, được ban hành bởi Nhà nước theo những trình tự và thủ tục nghiêm ngặt (hình thức, thẩm quyền, quy trình soạn thảo và ban hành); - Nếu chính sách (khi chưa được luật pháp hóa) chỉ là những cái đích mà người ta cần hướng tới, chưa phải là những quy tắc xử sự có tính rằng buộc chung hay tính bắt buộc phải thực hiện, thì pháp luật lại là những chuẩn mực có giá trị pháp lý bắt buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước; z 10 - Tuy nhiên, khi đã được thể chế hóa thì, vì chính sách là nội dung, pháp luật là hình thức nên chính sách có vai trò chi phối, quyết định đối với pháp luật. Khi tư tưởng chính sách thay đổi thì pháp luật phải thay đổi theo. Ngược lại, pháp luật lại là công cụ thực tiễn hóa chính sách.
Chính sách muốn đi vào cuộc sống một cách thực sự hiệu quả thì phải đựợc luật pháp hóa, nếu không được thể chế hóa thành pháp luật thì rất có thể chính sách sẽ chỉ là một thứ "bánh vẽ" khó có thể đi vào và phát huy hiệu quả trong cuộc sống. Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng. Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách.
CẤU TRÚC CHÍNH SÁCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG QUỐC Chính sách đất nông nghiệp là hệ thống các quan điểm, tư tưởng, giải pháp và công cụ của nhà nước nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên đất nông nghiệp. Chính sách đất nông nghiệp của Trung Quốc bao gồm những vấn đề sau đây. Những quy tắc chung về quản lý đất đai ở Trung Quốc Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc đã xác định rõ những quy tắc chung quan trọng về Quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Mục tiêu của việc tăng cường quản lý đất đai là duy trì, bảo vệ chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và khai thác tài nguyên đất đai, sử dụng hợp lý đất đai, thiết thực bảo vệ đất canh tác, thúc đẩy sự phát triển liên tục của kinh tế - xã hội [3, tr.
Nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, tức là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể. Sở hữu toàn dân, tức là quyền sở hữu đối với đất đai của Nhà nước do Quốc vụ viện thay mặt Nhà nước để thực hiện. Sở hữu tập thể của quần chúng lao động tức là tập thể nông dân ở nông thôn. z 11 Mọi đơn vị và cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng đất đai phi pháp dưới mọi hình thức.
Quyền sử dụng đất có thể chuyển nhượng theo pháp luật. Trong trường hợp để phục vụ lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu tập thể. Nhà nước thực hiện chế độ trưng dụng ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước có trả tiền hoặc không trả tiền theo pháp luật. Hết sức tiết kiệm, sử dụng hợp lý đất đai và bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc sách cơ bản của Trung Quốc.
Chính quyền nhân dân các cấp cần có biện pháp quy hoạch toàn diện, quản lý nghiêm ngặt, bảo vệ và khai thác tài nguyên đất đai, ngăn chặn hành vi chiếm dụng đất đai phi pháp. Nhà nước thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất. Nhà nước chia đất đai thành đất dùng cho nông nghiệp, đất dùng cho xây dựng và đất chưa sử dụng, lập quy hoạch sử dụng đất dùng cho nông nghiệp, đất dùng cho xây dựng. Hạn chế nghiêm ngặt việc chuyển đất nông nghiệp sang đất xây dựng.
Tiến hành bảo hộ đặc biệt đối với đất dùng cho nông nghiệp. Đơn vị và cá nhân được giao đất có trách nhiệm sử dụng đất đúng mục đích. Cơ quan hành chính chủ quản về đất đai của Quốc vụ viện thống nhất phụ trách công tác giám sát và quản lý đất đai toàn quốc. Căn cứ vào quy định của Quốc vụ viện, chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc xác định tổ chức chuyên trách của cơ quan hành chính chủ quản về đất đai thuộc chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên.
Mọi đơn vị và cá nhân đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, pháp quy về đất đai, đồng thời có quyền đề nghị kiểm tra và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, pháp quy về quản lý đất đai. Chính quyền các cấp khen thưởng đối với đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ khai thác tài nguyên đất đai và trong nghiên cứu khoa học có liên quan… z 12 1.