Chương I TỔNG QUAN 1. Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức là nội dung thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức và cá nhân Xây dựng ĐNTT có ý nghĩa chiến lƣợc đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức, cơ quan và cá nhân các nhà khoa học. Công tác xây dựng ĐNTT gồm nhiều khâu, nhiều bƣớc với nhiều nội dung, biện pháp, cách thức khác nhau. Tại các văn kiện quan trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định trí thức là nguồn động lực quan trọng đối với sự phát triển; khẳng định rõ các quan điểm, chủ trƣơng mới về công tác trí thức, chính sách đào tạo và bồi dƣỡng, trọng dụng, trọng đãi và tôn vinh trí thức, nhân tài.
Cùng với đổi mới (1986), và khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), công tác xây dựng ĐNTT là vấn đề đƣợc đặc biệt quan tâm. Các cơ quan tham mƣu của Trung ƣơng Đảng đã triển khai các chƣơng trình, đề tài khoa học nghiên cứu và một số lần có tờ trình, xây dựng đề án về trí thức để Trung ƣơng ra nghị quyết về vấn đề này. Nhƣng do còn nhiều vấn đề chƣa có sự đồng thuận, hoặc chƣa đồng thuận cao nên đến năm 2008, nghị quyết về xây dựng ĐNTT mới ra đời. Các quan điểm, chủ trƣơng của Đảng về công tác này đƣợc thể hiện trong các văn kiện về GD-ĐT, KH-CN, về công tác cán bộ, về xây dựng hệ thống chính trị, phát huy dân chủ, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,.
Do vai trò và vị trí của trí thức đối với sự phát triển của đất nƣớc, vấn đề ĐNTT đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên các chiều cạnh và mức độ khác nhau. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức đang là xu thế của thời đại, vấn đề trí thức và xây dựng ĐNTT càng đƣợc các quốc gia, nhiều ngành khoa học quan tâm. Đã có nhiều đề tài khoa học, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận án, luận văn, bài viết trên báo, tạp chí đề cập đến chính sách đào tạo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sử dụng trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đƣợc công bố. Nhiều tác giả đã nghiên cứu, phân tích, làm rõ quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc về xây dựng, phát huy tiềm năng ĐNTT trong các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về các nhóm trí thức đặc thù, nhƣ trí thức nữ, trí thức dân tộc thiểu số, trí thức KH-CN, trí thức ngành khoa học xã hội (KHXH), trí thức ngành GD-ĐT,. với nhiều cấp độ, từ nhiều hƣớng tiếp cận, nhƣ chính tn học, chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học, xây dựng đảng, triết học, lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, xã hội học. Sau đây, chúng tổi xin trình bày các công trình theo nhóm vấn đề liên quan: Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp tới vấn đề quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học trong nước về xây dựng và phát huy vai trò, tiềm năng trí tuệ của trí thức và thực trạng ĐNTT Việt Nam: Trung tâm UNESCO Phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng - Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2005), Trí thức Việt Nam xưa và nay, Nhà xuất bản (NXB) Văn hóa -Thông tin, Hà Nội. Đây là công trình công phu, tập hợp bài nói, bài viết về trí thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số nhà lãnh đạo và nhà khoa học, giới thiệu một cách sinh động về trí thức Việi Nam từ truyền thống đến hiện đại thông qua cuộc đời và sự nghiệp các nhân sỹ, trí thức, văn nghệ sỹ, có nhiều cống hiến, đóng góp đối với sự phát triển của đất nƣớc trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong sự nghiệp cách mạng dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đó là những trí thức tiêu biểu, những danh nhân đã đƣợc xã hội ghi nhận, tôn vinh. Đỗ Mƣời (1995), Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, NXB Chính trị quốc gia (CTQG), Hà Nội, gồm những bài nói, bài viết của đồng chí nguyên Tổng Bí thƣ về trí thức và công tác xây dựng ĐNTT; GS Phạm Tất Dong chủ biên (1995), Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển vọng, NXB CTQG, Hà Nội; TS Nguyễn Thanh Tuấn (1998), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, NXB 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CTQG, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn Văn Khánh, TS Nguyễn Quốc Bảo (2001), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn Văn Khánh chủ biên (2001), Trí thức với Đảng - Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước, NXB Thông tấn, Hà Nội; Nguyễn Đắc Hƣng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, NXB CTQG, Hà Nội; Nguyễn Trần Bạt (2005), Cải cách và sự phát triển, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội; Lê Quang Quý (2006), Trí thức ngành kiến trúc trong thời kỳ đổi mới, NXB CTQG, Hà Nội; TS Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB CTQG, Hà Nội; Nguyễn Đắc Hƣng (2008), Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại, NXB CTQG, Hà Nội; Nguyễn An Ninh (2008), Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội,. Một số công trình đã nêu các khái niệm về trí thức, ĐNTT; Vị trí, vai trò của ĐNTT trong sự phát triển của xã hội. Các công trình nêu khái quát quá trình hình thành và phát triển của trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những đóng góp của ĐNTT cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng đƣợc phản ánh khá sinh động, chân thực trong các công trình. Đồng thời, cũng nêu những vấn đề, yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với ĐNTT Việt Nam và phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển ĐNTT trong tiến trình CNH, HĐH đất nƣớc và hội nhập quốc tế. Các công trình cũng nêu một số đặc điểm, thực trạng tình hình ĐNTT Việt Nam trong thời kỳ đổi mới về trình độ chuyên môn, cơ cấu ngành nghề, độ tuổi, giới tính, sự phân bố của trí thức trong các ngành khoa học, các vùng miền, các thành phần kinh tế, các lĩnh vực hoạt động; chỉ ra những ƣu điểm, tiềm năng, thế mạnh và những hạn chế của ĐNTT Việt Nam. Các tác giả cũng gợi mở một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xây dựng ĐNTT , phát huy cao độ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vai trò của trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc và hội nhập quốc tế, từng bƣớc xây dựng nền kinh tế tri thức.
Các công trình nghiên cứu liên quan vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức khá phong phú, đáng chú ý là: Nghiêm Đình Vỳ - Nguyễn Đắc Hƣng (2002), Phát triển giáo dục - đào tạo nhân tài, NXB CTQG, Hà Nội; Ban Khoa giáo Trung ƣơng, Giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đổi mới: Chủ trương, thực hiện, đánh giá; TS Lê Hồng Phúc (2006), Bàn về đào tạo tiến sỹ ở Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội; Nguyễn Thế Long (2006), Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong cơ chế thị trường, NXB Lao động, Hà Nội; Phan Ngọc Liên (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nxb Đại học sƣ phạm, Hà Nội,. Trƣớc khi bàn về quan điểm, đƣờng lối của Đảng, chủ trƣơng chính sách của Nhà nƣớc đối với công tác xây dựng ĐNTT trong thời kỳ đổi mới, các công trình nghiên cứu đã làm rõ truyền thống lịch sử văn hiến của dân tộc Việt Nam, lịch sử giáo dục Việt Nam qua các thời đại. Qua đó cho thấy những yếu tố truyền thống và những tác động từ công tác GD-ĐT đến đặc điểm, xu hƣớng phát triển của trí thức Việt Nam. Các công trình cũng đề cập khá sâu về một số vấn đề liên quan đến nguồn trí thức Việt Nam - một yếu tố có ý nghĩa quyết định tới đặc điểm ĐNTT nƣớc ta trong thời kỳ đổi mới; chỉ rõ nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam trong tiến trình CNH, HĐH.
Nhiều công trình đã hệ thống hóa quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về GD-ĐT, phân tích những thời cơ và thách thức, những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực đến công tác đào tạo, bồi dƣỡng trí thức trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt từ khi Việt Nam là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), mở cửa dịch vụ giáo dục. Một số công trình bàn về vấn đề phát hiện, đào tạo, bồi dƣỡng, sử dụng nhân tài, tài năng trẻ, nêu thực trạng và một số giải pháp để phát hiện, bồi dƣỡng, phát huy tiềm năng sáng tạo của trí thức tài năng, nhân tài trong điều kiện kinh tế thị 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN), hội nhập quốc tế. Các tác giả cũng giới thiệu những kinh nghiệm hay về tổ chức, quản lý GD-ĐT, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ở một số quốc gia trên thế giới; giới thiệu những nhân tố mới, mô hình điển hình về đầu tƣ nhân lực, cơ sở vật chất cho sự nghiệp GD-ĐT, xã hội hóa giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở một số địa phƣơng, cơ sở trong thời kỳ đổi mới. Đề cập những vấn đề đặt ra đối với việc sử dụng trí thức, hạn chế hiện tƣợng ―chảy chất xám‖,.
Các công trình về xây dựng ĐNTT từ góc độ phát triển nền kinh tế tri thức, các ngành mũi nhọn, nguồn nhân lực trình độ cao: GS,TSKH Vũ Đình Cự và PGS, TS Trần Xuân Sầm chủ biên (2005), Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức, NXB CTQG, Hà Nội; Nhiều tác giả Việt Nam và nƣớc ngoài (2005), Ai sở hữu kinh tế tri thức?, NXB CTQG, Hà Nội; Trƣờng Đại học Lao động Xã hội (2005), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội,.