CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA TỔ CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản Nhân lực Nhân lực được xem là một bộ phận dân số có khả năng tham gia vào quá trình lao động trong một độ tuổi quy định. Nhân lực của một tổ chức phụ thuộc vào khả năng tham gia lao động của từng cá nhân và các quy định về độ tuổi lao động. Có một số cách hiểu khác về nhân lực như: Phạm Đức Thành (1995) cho rằng “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực” thể hiện việc tận dụng sức lực và tri thức của con người trong lao động sản xuất.
Còn theo Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001) thì “nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”. Thống nhất từ các các quan niệm trên, có thể tổng quan rằng, nhân lực được xem là năng lực được các cá nhân sử dụng trong quá trình hoạt động, bao gồm số lượng và tiềm năng của của một con người khi tham gia hoạt động trong một tổ chức. Hoặc có thể cho rằng nhân lực là tổng hợp các cá nhân có cùng kỹ năng kiến thức và hành vi ứng xử cũng như các giá trị đạo đức cùng thành lập, đóng góp đóng góp và duy trì phục vụ cho sự phát triển của tổ chức. Nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, một số định nghĩa điển hình như sau: Phạm Minh Hạc (2001) thì nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị Luan van 7 ở các mức độ khác nhau sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng hay khả năng nói chung, bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mai Quốc Chánh (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. Như vậy, có những”khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực được xem là nguồn cung cấp sức lao động cho tổ chức. Con ngư ời với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lư ợng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải”tạo xã hội. Các đặc trưng của nguồn nhân lực : Về số lượng: quy mô, cơ cấu và số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phạm vi lãnh thổ, các quy định pháp luật về giới hạn tuổi tác và cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính v.
Về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực“bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực, thí dụ trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội cũng như các lĩnh vực bảo đảm dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, lao động việc làm, trả công cũng như nhiều mối quan hệ xã ”hội khác. Chính sách Luan van 8 Theo tác giả Vũ Cao Đàm (2005) “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm người, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một tổ chức.
Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy: Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Tổng hợp các khái niệm trên chính sách được hiểu là một trong những công cụ chủ yếu mà cơ quan quản lý đưa ra để thực hiện một mục tiêu. Mỗi chính sách cụ thể là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của sự phát triển. Đào tạo “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình”.
Đào tạo được xem là các hoạt động học tập được tổ chức diễn trong một khoảng thời gian nhất định và thường là ngắn hạn nhằm cung cấp cho người lao động thêm những kỹ năng và kiến thức chuyên sâu hơn về công việc hiện tại của họ hoặc nhằm bổ sung và củng cố hoặc bù đắp những phần kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn còn thiếu hụt của người lao động. Luan van 9 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực Từ khái niệm chính sách và khái niệm đào tạo có thể rút ra khái niệm chính sách đào tạo được xem một công cụ chủ yếu mà cơ quan quản lý đưa ra trong một khoảng thời gian nhất định nhằm nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn hoặc kỹ năng cho người lao động để thực hiện hiệu qủa hơn nữa công việc hiện tai. Phát triển Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động học tập nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng, năng lực cho người lao động được xem xét với tầm nhìn dài hạn hơn có thể được sử dụng khi người lao động cần chuẩn bị cho những công việc với những đòi hỏi, yêu cầu cao hơn về trình độ chuyên môn lành nghề.
Với quan điểm trên, nội hàm khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm: Về mục tiêu việc phát triển nguồn nhân lực nhằm hoàn thiện và bồi dưỡng năng lực của người lao động và khả năng sáng tạo của họ cho phù hợp với các mục tiêu của tổ chức trong hiện tại và thích ứng với sự đổi mới trong tương lai. Về tính chất việc phát triển nguồn nhân lực là một quá trình liên tục mang tính chiến lược nhằm mục đích nâng bồi dưỡng năng lực về nguồn lực của người lao động. Về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm: các mục tiêu phát triển“trên các phương diện lực, trí lực và tâm lực song song với việc quan tâm đến quy hoạch hợp lý quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực để từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là Luan van 10 điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động.
Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con”người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh.
Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người. Tâm lực: “còn được gọi là phẩm chất tâm lý- xã hội hay còn biểu hiện ở tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Tóm lại, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ quan tâm đến trí lực và thể lực mà còn phải chú trọng vào phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Phát triển nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn của tổ chức.
Từ đó ta thấy việc phát triển nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là”nâng cao mặt bằng dân trí mà còn cần phải quan tâm đến sức khoẻ và cần coi trọng xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người. Chính sách phát triển nguồn nhân lực Chính sách“phát triển nguồn nhân lực là công cụ, bao gồm các chế độ, các qui định cụ thể về phát triển nguồn nhân lực được đem ra sử dụng nhằm Luan van 11 vào các mục tiêu dài hạn trong quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng trình độ của người lao động tập để họ có thể thực hiện có hiệu quả công việc hiện tại cũng như chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng, năng lực để họ có thể đảm nhiệm những công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ và các mục tiêu”dài hạn của tổ chức. Nội dung nghiên cứu về chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một tổ chức hành chính cấp huyện 1.