Chương 1. Giới thiệu: Khái quát nội dung cần nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Cơ sở lý luận: Tập trung trình bày lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: Xây dựng khung phân tích, mô hình hồi quy, chọn mẫu phù hợp, thu thập số liệu và giới thiệu quy trình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Tổng quan thực trạng về địa bàn nghiên cứu. Bằng phương pháp thống kê mô tả sẽ có đánh giá tổng quan về chương trình đào tạo nghề thông qua các nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân hộ gia đình có ảnh hưởng đến quyết định tham gia hay không tham gia học nghề. Kiểm chứng định lượng bằng hàm hồi quy Logit nhằm đánh giá các nhân tố tác động đến việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn huyện. Kết luận và hàm ý chính sách: Tóm lược những kết quả đã nghiên cứu, chỉ ra những nghiên cứu mới có thể vận dụng vào điều kiện thực tế tại địa phương; đồng thời nêu ra một số khuyến nghị, hàm ý chính sách nhằm giúp cho địa phương có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp.
Ngoài ra, chương này còn phát hiện một số điểm mới cũng như những hạn chế của đề tài và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2. Đào tạo nghề Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để lao động sau khi hoàn thành khóa học, hành được một nghề trong xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2002). Dạy nghề nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu xã hội, đòi hỏi lao động phải có trình độ, tay nghề nhất định, để thúc đẩy, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp quy luật sản xuất.
Do đó, lực lượng lao động nông thôn hiện nay đang trong giai đoạn thừa lao động giản đơn, nhưng thiếu nghiêm trọng lao động chuyên nghiệp. Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho người lao động đang hoạt động trong những lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn. Nguyễn Như Ý (1998), cho rằng đào tạo – đó là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp. Hay được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nói một cách cụ thể đào tạo nghề liên quan đến việc tiếp thu, truyền đạt các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nhằm thực hiện thành thạo những công việc cụ thể một cách hoàn hảo. Chuyển dịch cơ cấu lao động không chỉ đòi hỏi người lao động có trình độ học vấn để làm những công việc đáp ứng yêu cầu xã hội mà còn có kỹ năng tay nghề, thái độ, tác phong và đạo đức nghề nghiệp. Đào tạo nghề là một phương thức trang bị cho họ một nghề mới phù hợp với công việc và yêu cầu thực tế diễn ra, để họ có cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, tạo thu nhập từ các nhóm nghề phi nông nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chuyển dịch cơ cấu lao động Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2005), chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi tăng, giảm của từng bộ phận trong tổng số lao động, theo một không gian và khoảng thời gian nào đó. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu lao động là một khái niệm nêu ra trong một không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi chất lượng lao động. Lao động được chuyển dịch tuỳ theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, phục vụ và đáp ứng cho chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, cơ cấu lao động được chuyển dịch nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự hấp dẫn của nghề nghiệp, điều kiện làm việc, đặc điểm cá nhân hộ gia đình và sự hấp dẫn của ngành nghề mới sẽ thúc đẩy dịch chuyển lao động.
Lược khảo lý thuyết có liên quan Những nghiên cứu liên quan về đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động có rất nhiều lý thuyết được đã được các tác giả trong, ngoài nước vận dụng để nghiên cứu, phân tích. Trong đó, hai lý thuyết mà tác giả sử dụng để nghiên cứu luận văn này là: (1) Lý thuyết vốn con người (Human capital) và (2) Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động, nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra. Lý thuyết về vốn con người Theo Becker (1967), học được xem là một quyết định đầu tư tối ưu hóa. Giáo dục sẽ làm tăng năng suất của các cá nhân, và công nhân có tay nghề cao hơn sẽ được trả lương cao hơn, nếu thị trường lao động là hoàn hảo và lao động được trả lương theo giá trị biên của nó.
Nhận định này được Becker (1967) nghiên cứu ở 21 quốc gia OECD từ năm 1991 đến 2005, từ kết quả hồi quy ông nhận định thu nhập tăng lên rõ ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canada trong những năm 2000. Mincer (1974) cho rằng, cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Mức vốn con người được tích lũy nhiều hay ít tương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập, đào tạo và lao động. Chúng thường được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từng trải trên thị trường lao động.
Becker (1993), khẳng định không có đầu tư nào mang lại lợi nhuận lớn hơn như đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Vốn con người là sự tích lũy đầu tư trước đó vào giáo dục, đào tạo, sức khỏe và những nhân tố khác để làm tăng năng suất lao động. Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất lao động đều được xem là đầu tư vào vốn con người. Đầu tư vào vốn con người không chỉ những chi phí cho giáo dục và đào tạo chính thức mà còn cả về sức khỏe, cho di cư, tìm việc và chăm sóc trẻ trước khi đi học.
Về mặt lợi ích cá nhân, người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn; người có kinh nghiệm, thâm niên công tác cao hơn có mức thu nhập cao hơn; người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn ít bị thất nghiệp hơn. Borjas (2005) cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với giả thuyết cơ bản trong kinh tế học – mọi người đều tối đa hóa lợi ích. Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng giống như quyết định đầu tư vào vốn hữu hình khi đó người ta phải xem xét dòng thu nhập quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học ngành nghề nào đó hay không đi và giữa các ngành nghề với nhau. Phương án đi học và học ngành nghề nào sẽ được lựa chọn khi nó đem tới dòng thu nhập cao nhất có thể.
Mô hình quyết định đi học Nguyễn Bá Ngọc (2008) cho rằng, khi tham gia học tập, chúng ta phải trả mức phí trước mắt và thu lợi từ các dòng thu nhập cao hơn trong tương lai. Giả định xuất phát từ so sánh giữa kiếm tiền hiện tại với tiền kiếm được trong tương lai. Giả sử bạn đang gửi khoản tiền “P” trong ngân hàng và nhận một mức lãi suất “r” nào đó, đến năm thứ n thì giá trị tương lai “V” của khoản tiền này trong một năm sẽ là V=P*(1+r)n hay P(v) = V/(1+r)n LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Với một người đi học trong vòng 4 năm (giả định đi học ở tuổi 18 và học xong ở tuổi 22) để lấy một tấm bằng đại học, anh ta phải bỏ ra chi phí cho 4 năm học lần lượt (C0, C1, C2, C3) mức thu nhập dự kiến trong tương lai là W và số năm làm việc trước khi về hưu là “T” thì chúng ta có thể tính được giá trị hiện tại của tấm bằng là: - C1 - C2 - C3 W4 W5 WT P(v) = - C0 + _______ + ________ + _________ + ________ + ________ +…+ ________ 1+r (1 + r)2 (1 + r)3 (1 + r)4 (1 + r)5 (1 + r)T Như vậy, về mặt lý thuyết người đó chỉ nên đi học khi giá trị hiện tại P(v) > 0 Thu nhập, chi tiêu Đại học (1) III II Phổ thông (2) 18 22 T 0 Độ tuổi I Hình : Quyết định đi học (Nguồn: Harvey B. Đường (2): thể hiện dòng thu nhập khi tốt nghiệp phổ thông trung học.
Vùng (I): chi phí cho sách vỡ, đồ dùng học tập, học phí và những khoản chi phí khác không phải là chi phí sinh hoạt. Vùng (II): phần thu nhập bị mất nhìn thấy (do không đi làm và dành thời gian đi học), đây chính là chi phí cơ hội của thời gian bỏ ra đi học. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Vùng (III): thu nhập có được với tấm bằng đại học hoặc bằng nghề sau khi đã qua đào tạo. Người đó nên đi học khi giá trị hiện tại của vùng (III) > giá định hiện tại của vùng (I) + vùng (II).
Như vậy, giáo dục làm tăng thu nhập cho người lao động và giúp cải thiện cơ hội nghề nghiệp của họ theo 3 hướng: Tích lũy vốn con người với kiến thức, kỹ năng và phẩm chất từ môi trường giáo dục mang lại. Chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định cũng như khả năng tay nghề được trang bị từ trường học. Tích lũy thông tin (vốn kiến thức) giúp họ có thể tìm được công việc phù hợp hơn. Như vậy, động lực để người lao động quyết định đi học hay tham gia học ngành nghề gì đều mở ra cơ hội nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm và khả năng tạo ra thu nhập cao hơn người có trình độ học vấn thấp.