Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Khái niệm chính sách dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc Cho đến nay, thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, khái niệm "dân tộc" có hai nội hàm. Thứ nhất nó dùng để chỉ dân tộc ở cấp độ quốc gia tức là dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam, một thể chế chính trị - xã hội nhất định, một lãnh thổ, có nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Thứ hai, "dân tộc" dùng để chỉ cộng đồng tộc người cụ thể, có chung tiếng nói, có chung các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, các phong tục, tập quán, ví dụ khi ta nói đến các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Bana, Êđê… Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm "dân tộc" được hiểu theo nội hàm thứ hai.
Theo đó, "chính sách dân tộc" được hiểu là chính sách dân tộc và miền núi. Nó thể hiện mối quan tâm của Đảng và Nhà nước đến vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Sự định nghĩa đó nhằm phân biệt nó với thuật ngữ "chính sách dân tộc" nói chung. Chính sách được hiểu là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung; dựa vào đường lối chính trị, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà định ra chính sách về một lĩnh vực nhất định cùng với các mục tiêu, biện pháp, kế hoạch để thực hiện đường lối ấy.
Nhà nước ban hành nhiều loại chính sách như: chính sách kinh tế, chính sách quốc phòng, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách dân tộc.v… 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính sách dân tộc là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta, là sự thể hiện đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc mà cụ thể là các chính sách về xóa đói giảm nghèo; chính sách về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ về đất đai, nhà ở, tài nguyên, môi trường sinh thái; chính sách y tế - văn hóa – xã hội.v… Chính sách được thể hiện qua các Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật. Thực hiện chính sách dân tộc được hiểu là hoạt động có mục đích của con người biến chính sách, pháp luật chứa đựng chính sách thành hoạt động thực tế của các chủ thể thực hiện chính sách. Như vậy, các chủ thể thực hiện chính sách phải hành động phù hợp với mục tiêu, biện pháp, kế hoạch đã được đề ra trong chính sách. Việc thực hiện chính sách có nhiều hình thức: tuân thủ chính sách, chấp hành chính sách, sử dụng chính sách, áp dụng chính sách.
Tuân thủ chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách trong đó các chủ thể không được tiến hành những hoạt động trái với mục tiêu, biện pháp, kế hoạch mà chính sách đề ra. Ví dụ: không sử dụng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo sai mục đích, thiếu hoạch định, gây thất thoát, lãng phí. Chấp hành chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ của mình với hành động tích cực. Ví dụ: cán bộ thực hiện tốt, thực hiện tích cực, hoàn thành nhiệm vụ tăng cường nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn.
Sử dụng chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách trong đó các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, thực hiện những hành vi được cho phép. Ví dụ: hộ đồng bào dân tộc thiểu số được giao khoán đất sản xuất của các nông, lâm trường phục vụ sản xuất nhằm giảm nghèo, thoát 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghèo đã thực hiện các hoạt động trồng trọt, khai thác, sản xuất, kinh doanh một cách hợp pháp, đúng mục đích. Áp dụng chính sách được hiểu là một hình thức thực hiện chính sách trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những kế hoạch được đề ra trong chính sách hoặc tự mình căn cứ vào mục tiêu của chính sách để ra các quyết định nhằm đạt được mục tiêu đó. Ví dụ: Chủ tịch UBND tỉnh ra Quyết định thành lập Ban chỉ đạo, tổ chuyên viên giúp việc thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu vùng xa.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, nhân dân là một trong những bộ phận quan trọng trong hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Dân tộc là khái niệm chỉ hầu như tất cả các hình thức của cộng đồng người trong lịch sử; dân tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc, các bộ tộc. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Mỗi dân tộc có con đường hình thành và phát triển riêng của mình và các dân tộc luôn có mối quan hệ qua lại với nhau.
Sự tác động qua lại đó một mặt tạo điều kiện để các dân tộc không ngừng phát triển, nhưng ở một phương diện khác, nó cũng tạo ra những mâu thuẫn, xung đột cần được giải quyết [25]. Lênin đã từng chỉ rõ: "những sai biệt về mặt dân tộc và quốc gia giữa các dân tộc và các nước, những sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế giới" [48, tr. Điều đó cho thấy chừng nào còn có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc vẫn tồn tại và vẫn còn cơ sở xã hội, cơ sở thực tiễn, cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn dân tộc và xung đột dân tộc.Ăngghen đề cập đến sự ra đời của các dân tộc khi chưa xuất hiện chủ nghĩa tư bản. Quan điểm của C.Ăngghen thể hiện hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất, chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là cơ sở sinh ra nạn người bóc lột người, nạn áp bức giai cấp, áp bức dân tộc.
Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nạn bóc lột và áp bức giai cấp, áp bức dân tộc càng nặng nề. Vì vậy, muốn xóa bỏ nạn áp bức giai cấp, tình trạng dân tộc này nô dịch, bóc lột dân tộc khác thì phải xóa bỏ tận gốc rễ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra nạn áp bức giai cấp, nạn nô dịch dân tộc. Thứ hai, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản xét về bản chất là một cuộc đấu tranh quốc tế - toàn bộ giai cấp vô sản chống lại toàn bộ giai cấp tư sản, trước tiên giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền ở nước mình, phải tự mình trở thành dân tộc, phải biến lợi ích của mình thành lợi ích của dân tộc, biến lợi ích của dân tộc thành lợi ích của mình để trở thành người lãnh đạo toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Trong "Cương lĩnh về vấn đề dân tộc", Lênin cũng từng nhấn mạnh: các dân tộc có quyền bình đẳng, thực chất của vấn đề dân tộc là xoá bỏ nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, trên cơ sở đó dần dần xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc; không phân biệt nhỏ - lớn, phát triển - kém phát triển, màu da, tôn giáo, chế độ chính trị.
Sự bình đẳng giữa các dân tộc cần được thực hiện trên các lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội [25]. Điều đó phải được ghi nhận và bảo đảm bởi pháp luật của Nhà nước và điều quan trọng hơn là phải được thực hiện trong thực tế. Quyền bình đẳng được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Quyền bình đẳng trên lĩnh vực chính trị tức là quyền được 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lựa chọn chế độ chính trị của dân tộc mình, chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Quyền bình đẳng trên lĩnh vực kinh tế được hiểu: khi liên kết hợp tác giữa các dân tộc thì mỗi dân tộc có quyền thực hiện lợi ích kinh tế của mình, gắn liền với việc chống đặc lợi đặc quyền về kinh tế và phải tạo điều kiện cơ hội ngang bằng nhau để các dân tộc có điều kiện thực hiện lợi ích kinh tế của mình. Quyền bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa được hiểu: mỗi dân tộc có quyền giữ gìn, phát triển bản sắc văn hóa của dân tộc của mình, chống lại sự đồng hoá văn hóa. Ở những quốc gia đa dân tộc, phải phát huy bản sắc của từng dân tộc để tạo ra sự đa dạng trong sự thống nhất của nền văn hóa. Quyền bình đẳng về xã hội đưa ra đòi hỏi giải quyết một cách công bằng các vấn đề nảy sinh trong đời sống giữa các dân tộc trong xã hội.
Những nội dung đó đều quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện lập trường khoa học và cách mạng của Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn Cách mạng, đồng thời kế thừa, phát triển chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc đã trở thành hệ thống tư tưởng mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc. Hồ Chí Minh đã khái quát nên chân lý bất di bất dịch về quyền cơ bản của dân tộc: "Tất cả các dân tộc đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" [36].