Chương 1: Những vấn đề lý luận của chính sách công nghiệp Chương 2: Thực trạng chính sách công nghiệp của Việt Nam Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách công nghiệp Việt Nam Đây là một đề tài mang tính lý luận, bởi vậy mặc dù đã cố gắng hết sức mình, bài viết không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình quan tâm, giúp đỡ của Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Ánh đã hướng dẫn em viết bài khoá luận này. Hà nội ngày 15 tháng 12 năm 2003 Sinh viên thực hiện: Vũ Hải Yến Lớp Nhật 3 – K38 F SV: Vò H¶i YÕn Líp NhËt 3 - K38 F 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đề tài tốt nghiệp: Chính sách công nghiệp của Việt Nam Khoa Kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế hiện nay CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP I. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP 1.
Khái niệm về chính sách công nghiệp 1. Khái niệm Trên phạm vi thế giới, thuật ngữ “Chính sách công nghiệp”(CSCN) mới chỉ xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới II, khi mà Chính phủ Nhật Bản ban hành một loạt các chính sách để tái thiết nền kinh tế và phát triển công nghiệp sau khi bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Tiếp theo đó, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nước khác cũng đề ra các chính sách riêng của mình để khôi phục và phát triển công nghiệp. Vì thuật ngữ này được sử dụng phổ biến chỉ ở một số nước nên chưa có một định nghĩa chuẩn, thống nhất về CSCN.
Một số học giả cho rằng: “CSCN là những chính sách được nhằm vào ngành công nghiệp, một số khác lại cho rằng CSCN là những chính sách liên quan đến việc khuyến khích và tổ chức lại các ngành công nghiệp riêng biệt nào đó”.(Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học kinh học rút ra cho công nghiệp Việt Nam – TS Nguyễn Minh Tú và Th.S Vũ Xuân Nguyệt Hồng – NXB Lao động - 2001) Tuy nhiên, có một số khái niệm về CSCN được sử dụng rộng rãi và thống nhất là khái niệm của Bộ Công Nghiệp và Thương Mại Quốc Tế của Nhật Bản, khái niệm của một số học giả Nhật Bản và đối với Việt Nam thì các nhà kinh tế và hoạch định chính sách cũng đưa ra quan niệm riêng của mình. Theo Bộ Công Nghiệp và Thƣơng Mại Quốc Tế của Nhật Bản, CSCN bao gồm những biện pháp mang tính bổ sung được dựa trên nguyên tắc thị trường, nhằm giải quyết những vấn đề bất ổn của thị trường như ô nhiễm môi SV: Vò H¶i YÕn Líp NhËt 3 - K38 F 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đề tài tốt nghiệp: Chính sách công nghiệp của Việt Nam Khoa Kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế hiện nay trường, xung đột về mậu dịch, hoạt động nghiên cứu và triển khai có quy mô lớn, và những bất ổn định trong cung cấp năng lượng, đồng thời khuyến khích việc chuyển dịch công nghiệp và di chuyển lao động một cách thuận lợi mà không gây mâu thuẫn về mặt xã hội. (Chính sách công nghiệp Nhật Bản –NXB Chính trị quốc gia- 2001) Một số học giả Nhật Bản lại cho rằng CSCN là chính sách nhằm tác động tới phúc lợi kinh tế của một quốc gia thông qua việc chính phủ can thiệp vào lĩnh vực phân bổ các nguồn lực giữa các ngành, các khu vực của một quốc gia và can thiệp vào tổ chức sản xuất của các ngành/ khu vực nào đó.(Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học kinh học rút ra cho công nghiệp Việt Nam – TS Nguyễn Minh Tú và Th.S Vũ Xuân Nguyệt Hồng – NXB Lao động - 2001). Theo quan điểm này, CSCN vừa bao gồm chính sách có tác động liên ngành, vừa bao gồm chính sách có tác động tới nội bộ một ngành.
Các quan niệm về CSCN trên có nhiều điểm không phù hợp với tình hình phát triển của Việt Nam. Vì thế, các nhà kinh tế và hoạch định chính sách của Việt Nam lại đưa ra một quan niệm khác về CSCN. Theo họ, CSCN là một hệ thống các chính sách, nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng như một công cụ để điều chỉnh các hoạt động công nghiệp của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia đó. (Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam trong quá trình đổi mới – TS Nguyễn Đại Lược – NXB Khoa học xã hội - 1998) SV: Vò H¶i YÕn Líp NhËt 3 - K38 F 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đề tài tốt nghiệp: Chính sách công nghiệp của Việt Nam Khoa Kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế hiện nay Trên cơ sở quan niệm đó, CSCN bao gồm việc định rõ các ngành công nghiệp cụ thể sẽ được khuyến khích và chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp đã được lựa chọn thông qua hệ thống các công cụ.
Đường lối, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia thường không đổi trong một thời gian dài, nhưng với từng giai đoạn phát triển cụ thể, nhiệm vụ của CSCN có thể thay đổi nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động công nghiệp theo hướng có hiệu quả hơn cho sự phát triển kinh tế- xã hội chung của đất nước để chuyển nền kinh tế từ trạng thái phát triền thấp sang phát triển cao hơn, từ nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế văn minh hiện đại, từ nền kinh tế đang phát triển sang nền kinh tế phát triển. CSCN đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích công nghiệp phát triển và là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Phân loại CSCN là một hệ thống chính sách nên nó được phân chia theo nhiều tiêu chí: - Nếu phân chia theo tác động thì CSCN được chia thành những chính sách tác động trong nội bộ các ngành công nghiệp và những chính sách có tác động liên ngành. CSCN có tác động trong nội bộ ngành là những chính sách được đưa ra để khuyến khích hay hạn chế một ngành công nghiệp nào đó phát triển.
CSCN có tác động liên ngành là những chính sách được đưa ra không chỉ có ảnh hưởng tới một ngành công nghiệp nào đó mà có thể tác động tới các ngành công nghiệp khác hoặc tác động tới các lĩnh vực sản xuất khác. - Nếu dựa vào mục tiêu thì có rất nhiều cách phân loại SV: Vò H¶i YÕn Líp NhËt 3 - K38 F 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đề tài tốt nghiệp: Chính sách công nghiệp của Việt Nam Khoa Kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế hiện nay Các nhà kinh tế Nhật Bản chia ra các chính sách + Chính sách nhằm hình thành cơ sở hạ tầng cho tất cả các ngành công nghiệp thông qua Nhà nước hỗ trợ vốn để xây dựng hệ thống đường xá, cầu cảng công nghiệp, nhà máy điện- nước… + Chính sách nhằm phân bổ nguồn lực giữa các ngành công nghiệp thông qua việc Nhà nước trợ cấp và bảo hộ cho một số ngành mũi nhọn. + Chính sách nhằm cơ cấu lại một số ngành công nghiệp thông qua việc Nhà nước trợ giúp một số ngành công nghiệp “tổ chức lại” cơ cấu của mình, liên kết với nhau khi gặp khó khăn… + Chính sách giải quyết các vấn đề của các công ty vừa và nhỏ…(Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học kinh học rút ra cho công nghiệp Việt Nam – TS Nguyễn Minh Tú và Th.S Vũ Xuân Nguyệt Hồng – NXB Lao động - 2001). Ngân hàng Thế Giới (WB) lại đƣa ra cách phân loại theo mục tiêu khác với các nhà kinh tế Nhật Bản.
+ Chính sách nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp như chính sách hỗ trợ tăng trưởng cho ngành thep, điện tử… + Chính sách về điều chỉnh công nghiệp như cải cách cơ cấu công nghiệp dệt, đóng tàu… + Các chính sách khác như chính sách thúc đẩy sự phát triển công nghiệp …(Việt Nam: báo cáo kinh tế về công nghiệp hoá và chính sách công nghiệp – Báo cáo của Ngân hàng Thế giới - 1995) 2. Vai trò của chính sách công nghiệp SV: Vò H¶i YÕn Líp NhËt 3 - K38 F 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đề tài tốt nghiệp: Chính sách công nghiệp của Việt Nam Khoa Kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế hiện nay Là chính sách ngành nên CSCN là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để phát triển các ngàng công nghiệp trên cơ sở phân bổ các nguồn lực giữa các ngành và các doanh nghiệp trong ngành. Do đó, CSCN có những vai trò quan trọng: - CSCN được sử dụng để đưa ra định hướng về các ngành công nghiệp cần được ưu tiên phát triển, từ đó có làm cơ sở để phát triển nền kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã cho thấy rằng một quốc gia muốn phát triển phải dựa trên sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp.
Tuy nhiên, một quốc gia không bao giờ có đủ nguồn lực để có thể đầu tư phát triển tất cả các ngành công nghiệp mà chỉ có thể chú trọng phát triển một số ngành. Những ngành công nghiệp mà một nước lựa chọn để phát triển sẽ được xem là những ngành mà nước đó có lợi thế so sánh Nhà nước sử dụng CSCN để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngàng công nghiệp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối với các nước phát triển, CSCN chủ yếu hướng vào việc hỗ trợ các ngành công nghiệp đang bị suy giảm nhằm đưa các ngành đó tiếp tục phát triển ổn định và hỗ trợ các ngành công nghiệp cao để tạo ra các lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia phát triển khác.