CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUNG ĐỘT VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 1. Tổng quan về công nghệ và chính sách 1. Khái niệm công nghệ Hiện nay, khái niệm về công nghệ được trình bày từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Sau đây là một số khái niệm thường gặp được trên sách, báo khoa học trong và ngoài nước.
[22; 61] Khái niệm 1: Theo J. Dunning (năm 1983), “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”. Khái niệm 2: Sharif (trong Dự án của ESCAP: Technology Atlas Projec - năm 1986) cho rằng: “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu và tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”, gồm 4 dạng cơ bản: - Dạng vật thể: vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh (dạng này gọi là Technoware); - Dạng con người: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm (dạng này gọi là Humanware); - Dạng ghi chép: bí quyết, quy trình , phương pháp, dữ kiện thích hợp… được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…(dạng này gọi là Inforware); - Dạng thiết chế tổ chức: dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ cấu pháp luật…(dạng này gọi là Orgaware). Khái niệm 3: UNCTAD (1972) đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện một trong các dạng sau: - Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư; 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhân lực, thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao, chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị, kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin; - Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền.
Theo định nghĩa này, bản chất của công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin và có mục tiêu để làm đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Khái niệm 4: WB (1985) định nghĩa: “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”. Định nghĩa này cho thấy công nghệ có bản chất là công cụ, thông tin, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm. Khái niệm 5: Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam (2000) đưa ra định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến các nguồn lực thành sản phẩm.
Tóm lại, nhắc đến công nghệ là đề cập đến khả năng sáng tạo, một tập hợp các kiến thức, một quy trình, thiết bị, phương pháp để chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm và được mua bán trên thị trường như một hàng hóa. Tùy theo mục đích sử dụng hoặc lĩnh vực nghiên cứu, công nghệ được phân loại theo các hướng tiếp cận khác nhau. Việt Nam là quốc gia đang bị ô nhiễm môi trường do sử dụng công nghệ ô nhiễm trong hoạt động công nghiệp, khái niệm công nghệ môi trường ngày càng được xã hội quan tâm đúng mức. Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người.
Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và quy trình đó. [15; 9] 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các thế hệ phát triển công nghệ Các thế hệ công nghệ sau đây được phân theo tiêu chí đánh giá tác động môi trường, công nghệ sau càng hướng tới giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thậm chí không gây ô nhiểm môi trường. [23; 18] (1) Công nghệ truyền thống: Bản chất của công nghệ truyền thống là vận hành theo tuyến, các nguyên liệu và năng lượng qua chế tác đã chuyển thành sản phẩm hàng hóa, một phần trở thành chất thải.
Các sản phẩm hàng hóa được con người sử dụng cuối cùng cũng trở thành chất thải. Cả hai loại chất thải này không có cơ hội tái chế, tái sử dụng và được thải bỏ trực tiếp vào môi trường tự nhiên và đây là quy trình sản xuất một chiều. Công nghệ truyền thống tạo ra các chất thải công nghiệp, kéo theo sự xuống cấp chất lượng môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. Từ lâu các nước phát triển đã đào thải công nghệ truyền thống sang các nước đang phát triển vì nó không đảm bảo được khả năng cạnh tranh cho sản phẩm.
(2) Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường. Có thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy trình sản xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào. Đối với các quá trình sản xuất, công nghệ sạch làm giảm thiểu các tác động môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt chu trình sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu, nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình sản xuất. (3) Sản xuất sạch hơn: Theo UNEP (1995) “Sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ, nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường”.
Như vậy nội dung của SXSH có thể được mô tả ở 5 mức: Chiến lược, tiếp cận, vận hành, các lựa chọn và các giải pháp. Các kỹ thuật SXSH được chia thành 3 nhóm chính (Hình 1.1): 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các kỹ thuật SXSH Tuần hoàn Giảm tại nguồn Cải tiến sản phẩm Thu hồi và Tạo ra sản Thay đổi Quản lý tốt tái sử dụng phẩm có quy trình nội vi tại chỗ ích sản xuất Thay Kiểm soát Cải tiến Thay đổi nguyên liệu tốt hơn quy thiết bị công nghệ đầu vào trình SX Hình 1.1: Phân loại các kỹ thuật sản xuất sạch hơn [17; 12] (4) Công nghệ thân thiện môi trường được hiểu đơn giản là công nghệ không gây ô nhiểm môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng; giảm thiểu đến mức thấp nhất phát sinh chất thải; bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bằng các giải pháp tối ưu hóa các dòng vật chất và năng lượng trong quá trình sản xuất công nghiệp. Các cơ sở sản xuất trở thành những sinh thái công nghiệp, có mối quan hệ cộng sinh với nhau dựa trên nguyên tắc trao đổi chất, chu trình sản xuất khép kín đảm bảo tuần hoàn năng lượng và vật chất ở mức tối đa. Lợi ích kinh tế và môi trường của sản xuất sạch hơn Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.
Điều này tất yếu kéo theo sự gia tăng tốc độ sản xuất công nghiệp cũng như sự hình thành các KCN. Sự phát triển của các KCN đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường và nếu công tác BVMT không được đầu tư đúng mức, các thất thải công nghiệp sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến tài nguyên và chất lượng môi trường (Hình 1. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khí thải và ô nhiễm không khí Cạn kiệt các Ô nhiễm do nguồn tài nguyên tiếng ồn Sự suy giảm đa dạng sinh học Hoạt Nước thải và động của ô nhiễm các các KCN nguồn nước Hủy hoại môi trường sống Phân bố lại địa bàn Các sự cố môi dân cư và các vấn trường KCN Chất thải rắn, đề môi trường liên CTNH và ô quan nhiễm đất Hình 1.2: Mối tương quan giữa phát triển KCN và các vấn đề môi trường [23; 20] Nhận thức được tầm quan trọng và bức xúc của vấn đề môi trường trong quá trình CNH, HĐH hướng tới phát triển bền vững (PTBV) đất nước, khái niệm SXSH đã được giới thiệu và thử nghiệm áp dụng trong công nghiệp đầu tiên ở nước ta từ năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ là: Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp giấy và Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp dệt ở Hà Nội. Tiếp đó, Việt Nam đã ký Tuyên ngôn Quốc tế về SXSH (1999), thể hiện sự cam kết của chính phủ ta phát triển đất nước theo chiến lược bền vững.
Các khái niệm “Phòng ngừa ô nhiễm”, “Hiệu suất sinh thái”, “Sản xuất không phế thải”, và “Năng suất xanh” cũng được giới thiệu vào nước ta. Mặc dù có tên gọi khác nhau, song bản chất của các khái niệm có nghĩa tương tự nhau nhằm: “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu, năng lượng và chủ động ngăn chặn sự tạo thành chất thải ngay tại nguồn phát sinh ra chúng, giảm thiểu các chất ô nhiễm đi vào môi trường”. Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò cấp thiết của SXSH trong công nghiệp, ngày 07 tháng 9 năm 2009, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020”. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số cái “hơn” của SXSH được các chuyên gia đánh giá như: - Giảm nguyên liệu và năng lượng sử dụng: Do giá thành ngày một tăng của các nguyên liệu sử dụng cũng như hiện trạng ngày càng khan hiếm nước, không một doanh nghiệp nào có thể chấp nhận việc thải bỏ các tài nguyên này dưới dạng chất thải.
Nước và năng lượng là đặc biệt quan trọng, đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng với khối lượng lớn. - Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn: Các cơ quan tài chính ngày một nhận thức rõ sự nghiêm trọng của việc huỷ hoại môi trường và hiện đang nghiên cứu các dự thảo dự án mở rộng hoặc hiện đại hoá mà trong đó các khoản vay đều được nhìn nhận từ góc độ môi trường.