phần Mở đầu, phần Nội dung, và Danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1 Bảo trợ xã hội Chƣơng 2 Bảo trợ xã hội đ Đống Đa. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội đối với trẻ em khuyết tật trên địa bàn Quận Đống Đa. 7 NỘI DUNG Chƣơng 1 BẢO TRỢ XÃ HỘI quát về trẻ em khuyết tật 1.
Khái niệm khuyết tật Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khuyết tật dựa trên những bối cảnh khác nhau. Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế của Người khuyết tật: “Khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống” [24, tr. Theo Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật: “Sự khuyết tật là sự giới hạn hoặc mất mát các cơ hội tham gia vào các sinh hoạt bình thường của cộng đồng trong sự bình đẳng với những người khác do những rào cản về kinh tế, xã hội và môi trường; khuyết tật là một khái niệm có tính phát triển, là những kết quả từ sự tương tác của những người có khiếm khuyết với những rào cản trong thái độ và môi trường. Khuyết tật đã gây cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội dựa trên nền tảng bình đẳng với những người khác” [24, tr.
8 Tại Việt Nam, từ khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần. Còn từ “tật” có nghĩa là “điều gì đó không bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” [23, tr. Khái niệm t (NKT) lực 9 năm 2007.
rên khái niệm trẻ em, khái niệm về khuyết tật và khái niệm thì khái niệm :N 1.1 Theo Điều 3 - Luật Người khuyết tật năm 2010 và Điều 2 - Nghị đinh số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 4 năm 2012, gồm các dạng khuyết tật sau: - - 10 - - - 11 - c khắ 12 n 1. Nguyên nhân khuyết tật Khuyết tật bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân, chúng ta có thể phân loại khuyết tật theo các nhóm nguyên nhân sau đây. Những nguyên nhân do môi trường sống: - Điều kiện ăn ở thiếu thốn, mất vệ sinh; - Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai; - Nhiễm độc do sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi; - Chấn thương do tai nạn, rủi ro; - Các cuộc chiến tranh và bạo lực; - Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống. Những nguyên nhân do xã hội: - Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống) gây biến đổi về di truyền; 13 - Sự bất lực của y học và khoa học kĩ thuật; - Sự kỳ thị, phân biệt đối xử của xã hội; - Mù chữ, thiếu hiểu biết về các dịch vụ y tế sẵn có.
Những nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh: - Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh chẳng hạn như hội chứng Đao, sai lệch nhiễm sắc thể trong quá trình phân bào. - Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubella, giang mai, HIV; do nhiễm độc một số thực phẩm do người mẹ dùng như thuốc chống động kinh, các chất có cồn rượu; hoặc suy dinh dưỡng ở người mẹ hoặc thiếu Iốt trong bữa ăn hàng ngày. - Một số nguyên nhân khác như: thiếu oxy, thời gian sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh; lây nhiễm trong khi sinh và đẻ non cũng là những nguyên nhân gây ra hiện tượng khuyết tật sau này 1.5 TEKT cũng có khát vọng được hòa nhập, học tập, giao tiếp, và được tôn trọng để xóa đi những mặc cảm, tự ti của bản thân mình. Tuy nhiên, do những dạng tật khác nhau cho nên TEKT cũng có những đặc điểm riêng biệt so với những người không bị khuyết tật.
Thể hiện cụ thể như sau: - Đặc điểm về sức khỏe: So với trẻ em bình thường có đầy đủ các bộ phận trên cơ thể theo cấu tạo sinh học, khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi trong các quan hệ xã hội thì TEKT là những người bị khiếm khuyết (thiếu, không có hoặc bị mất đi) bộ phận nào đó trên cơ thể, bị suy giảm sức khỏe khó có thể phục hồi, bị hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức, tiếp thu các tư tưởng văn hóa và giáo dục như các chủ thể thông thường khác. - Đặc điểm về tâm lý: Nhìn chung TEKT là những người sống rất khép kín, ngại giao tiếp, ít hòa nhập cộng đồng. Họ thường có những mặc cảm, tự ti và bi quan về sự tật nguyền của mình. Do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc 14 tinh thần nên TEKT là những người dễ bị tổn thương nhất, là một trong những nhóm người yếu thế trong xã hội.
TEKT dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử. Ngoài một số TEKT có ý chí, nghị lực cao, họ thường cố gắng học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác, - Dưới góc độ kinh tế - xã hội: TEKT là nhóm người đặc biệt phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế - xã hội. Những gia đình có TEKT thường rất khó khăn trong vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. 1 bảo trợ xã hội 1.
Các khái niệm cơ bản a, Khái niệm chính sách công Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chính sách công. Chúng ta có thể tiếp cận khái niệm này từ một số các quan điểm sau: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thể hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung, và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” [28, tr.
Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary), chính sách là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà 15 cai trị, chính khách, vv… Theo sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định, mà nó là một đường lối hay phương hướng hành động. Theo Hugh Heclo (năm 1972) cho rằng: “Một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể”. Theo David Easton (năm 1953): “Một chính sách…bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà phân phối… các giá trị”. Theo Smith (năm 1976): “Khái niệm chính sách bao hàm…sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau”.
Như vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng và cụ thể về chính sách. “Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng” [20, tr. Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết.
Cho đến hiện tại, có không ít định nghĩa khác nhau về chính sách công, trong đó có một số định nghĩa khá phức tạp và bao hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động. Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chính sách công như sau: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Định nghĩa này khá cô 16 đọng, nhưng không cung cấp những hiểu biết sâu sắc về chính sách công, bởi nó không đưa ra một sự phân định những hoạt động nào được gọi là chính sách trong vô số các hoạt động của nhà nước. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng đã chỉ ra những dấu hiệu nhận biết nhất định về chính sách công.
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước. Điều này có nghĩa là các quyết định của các doanh nhân, các tổ chức từ thiện, các nhóm lợi ích, các cá nhân trong xã hội không phải là chính sách công. Khi nói về chính sách công thì phải hiểu rằng đó là các hành động của nhà nước. Cho dù trong thực tế, các hoạt động của các chủ thể phi nhà nước có thể hoặc chắc chắn ảnh hưởng đến những gì nhà nước làm, nhưng bản thân những quyết định hoặc các hoạt động của các chủ thể đó không tạo nên chính sách công.
Chính sách công là biện pháp mà nhà nước thực hiện trên thực tế để tác động điều chỉnh hành vi của mọi đối tượng nhằm đạt mục tiêu mong muốn. Thứ hai, chính sách công bao gồm sự lựa chọn cơ bản từ phía nhà nước theo hướng làm hoặc không làm gì. Quyết định này được cán bộ, công chức nhà nước và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Nói một cách đơn giản hơn, chính sách công là sự lựa chọn tối ưu của nhà nước đối với một đường lối hành động.
Quan niệm về “không làm gì” có nghĩa là nhà nước quyết định không tạo ra một chương trình mới, hoặc đơn giản chỉ là duy trì tình trạng hiện tại của một quá trình kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, chúng ta phải coi đây là các quyết định có tính toán. William Jenkins (năm 1978) đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, chính sách công “là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền Theo William Jenkins, chính sách công là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một các rõ ràng chính sách công là “một tập hợp các quyết định có liên quan với 17 nhau”. Vì trên thực tế, hiếm khi nhà nước giải quyết một vấn đề công bằng một quyết định đơn lẻ, mà hầu hết đều phải bao gồm hàng loạt các quyết định khác nhau.