Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Khái quát về thất nghiệp 1. Khái niệm và nguyên nhân thất nghiệp 1. Khái niệm thất nghiệp Quan điểm về thất nghiệp đã được nhiều tổ chức và nhiều nhà khoa học bàn luận song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau.
Người đầu tiên nghiên cứu về thất nghiệp là Uyliam Petty cho rằng: Để giảm bớt tình trạng thất nghiệp thì phải đẩy mạnh xuất khẩu ra bên ngoài để thu hút lao động thừa trong xã hội. Tuy nhiên, Adam Smith mới là người nghiên cứu một cách có hệ thống về việc làm và thất nghiệp, ông khẳng định nạn nhân khẩu thừa (tức thất nghiệp) là không thể tránh khỏi trong nền KTTT. Nhà kinh tế học Keynes trong "Lý thuyết về việc làm, lãi suất và tiền tệ" thừa nhận vấn đề thất nghiệp không phải là những hiện tượng độc lập của đời sống kinh tế mà là kết quả của những tính quy luật nhất định trong việc đạt được cân bằng của hệ thống kinh tế. Theo quan điểm của P.Ăngghen, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản, chính đáng nhất và lớn nhất của con người.
Lao động là cách thức duy nhất để tạo ra thu nhập nhưng trong điều kiện KTTT không phải ai cũng được đáp ứng và được đáp ứng một cách đầy đủ. NLĐ muốn được lao động phải có việc làm nhưng không phải NLĐ nào cũng dễ tìm kiếm. Những người không có việc làm thực chất là họ đã bị thất nghiệp. Đến nay đã tồn tại nhiều quan điểm về thất nghiệp song định nghĩa thất nghiệp của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được nhiều nhà kinh tế, nhiều quốc gia đồng tình và vận dụng.
Theo ILO, thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động. Còn người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm, không làm kể cả một giờ 10 trong tuần lễ điều tra, đang đi tìm việc làm, có điều kiện là họ làm ngay. Quan điểm này có ưu điểm là nói rõ được bản chất của thất nghiệp là thị trường lao động đã không tạo được việc làm đầy đủ cho những người có khả năng lao động và chấp nhận giá thị trường của lao động. Có nghĩa là ngay cả trường hợp thị trường lao động cân bằng thì vẫn tồn tại thất nghiệp.
Tại Thái Lan, người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc. Nhật Bản quan niệm, người thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xin việc làm. Luật BHTN của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: Người thất nghiệp là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động (QHLĐ) hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn. Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.
Quan điểm này bao hàm được nhiều dạng thất nghiệp nhưng không đề cập đến thị trường lao động và không đưa ra căn cứ tính toán tỷ lệ thất nghiệp. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khái niệm về thất nghiệp và người thất nghiệp chưa được quan tâm và thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật. Từ khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, Đảng và Nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện, thể chế hóa các quy định về lao động, việc làm, thất nghiệp, BHXH trong hệ thống các văn bản pháp luật. Các quy định của pháp luật lao động, việc làm và BHXH đã có quy định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, về thất nghiệp và người thất nghiệp như sau: - Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
- Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì để hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động. 11 - Người lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho NLĐ có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, nhà nước quy định mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm. - Người lao động thiếu việc làm là người trong khoảng thời gian điều tra, có thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm.
Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ. - Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương tối thiểu. Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi (trừ một số trường hợp đặc biệt) đến đủ 62 tuổi đối với nam và đủ 60 tuổi đối với nữ làm việc ở điều kiện lao động bình thường, làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra. Theo đó, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao gồm: - Người lao động đang làm việc bị mất việc vì các lý do khác nhau như doanh nghiệp phá sản; sáp nhập; giải thể; sắp xếp lại SXKD hoặc áp dụng công nghệ mới; NLĐ bị chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn, bị sa thải, HĐLĐ hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng.
- Người lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc thôi học nhưng chưa tìm được việc làm. - Người tham gia lực lượng vũ trang xuất ngũ, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ, NLĐ đi xuất khẩu lao động về nước muốn làm việc nhưng chưa có việc làm. - Những đối tượng sau thời gian quản giáo hoặc chữa trị bệnh đang có nhu cầu về việc làm. - Những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất.
Những người không bị coi là người thất nghiệp bao gồm: 12 - Những người có việc làm nhưng hiện tại không làm việc vì một lý do nào đó như: Nghỉ phép, nghỉ ốm, điều trị bệnh dài ngày, tai nạn … - Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việc làm. Như vậy, khái niệm người thất nghiệp không đồng nghĩa với người không có việc làm. Không phải tất cả những người không có việc làm đều là người thất nghiệp, chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp. NLĐ thiếu việc làm, người không có nhu cầu làm việc không được coi là người thất nghiệp.
Điều 3 của Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam quy định người thất nghiệp là: “Người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Theo quan điểm này, người thất nghiệp bao gồm những người đã đi làm trong đó bao gồm những người làm việc trong khu vực làm công ăn lương theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, tức là chỉ bao gồm một phần trong tổng số người thất nghiệp, chưa đề cập đến lý do thất nghiệp là chủ quan hay khách quan. Do đó thường dẫn đến những nhầm lẫn trong việc giải quyết BHTN. Hiện nay, Luật BHXH năm 2014 đã bỏ quy định giải thích về người thất nghiệp của Luật BHXH năm 2006.
Có thể thấy, dù có nhiều quan điểm và tiếp cận dưới các góc độ khác nhau nhưng các quan điểm đều thống nhất nhìn nhận, một NLĐ được coi là thất nghiệp phải có đầy đủ các đặc trưng sau: (i) Là người lao động, có khả năng lao động; (ii) Đang không có việc làm và (iii) Có nhu cầu lao động, đang đi tìm việc làm. Kế thừa các quan điểm về thất nghiệp nêu trên, dưới góc độ tiếp cận thực hiện chính sách về BHTN, có thể hiểu: “Thất nghiệp là tình trạng người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tích cực tìm việc làm nhưng chưa tìm được việc làm theo nhu cầu, đã đăng ký tại các cơ sở quản lý lao động xã hội”. Nội hàm của khái niệm này cho thấy đầy đủ các đặc trưng dấu hiệu nhận diện cơ bản của thất nghiệp (trong độ tuổi, có khả năng lao động, đang tìm việc làm) và nhấn mạnh khía cạnh tích cực tìm 13 việc làm của người thất nghiệp thông qua việc đăng ký tại các cơ sở quản lý lao động. Khái niệm này cũng giúp phân biệt được người thất nghiệp thật sự với người không có việc làm nhưng không muốn đi tìm việc làm và người làm việc theo mùa vụ, không hết thời gian ở nông thôn.
Nguyên nhân thất nghiệp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế. Có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp sau: - Chu kỳ phát triển sản xuất, kinh doanh Trong nền KTTT, quá trình phát triển kinh tế thường xuyên biến động lên, xuống theo chu kỳ với bốn giai đoạn: (i) Hưng thịnh; (ii) Suy thoái; (iii) Khủng hoảng; (iv) Đình trệ hoặc trải qua hai giai đoạn thu hẹp và mở rộng. Sự phát triển SXKD phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế vì vậy nó cũng mang tính chu kỳ. Tính chất biến động theo chu kỳ tác động đến việc làm và khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, khủng hoảng, đình trệ hoặc khi hoạt động SXKD bị thu hẹp.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh Ngày nay khoa học kỹ thuật đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có tính đột phá và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (IR 4.