CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI GIỮA CÁC QUỐC GIA 1. KHÁI NIỆM CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI “Chiến tranh thương mại (Chiến tranh mậu dịch) là hiện tượng trong đó hai hay nhiều nước gia tăng hoặc tạo ra thuế hoặc các loại rào cản thương mại (gồm giấy phép xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, viện trợ đối với các ngành sản xuất trong nước, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu khắt khe đối với hàng hóa nhập vào nội địa, lệnh cấm vận, hạn chế thương mại và sự làm mất giá tiền tệ) với nhau nhằm đáp trả những rào cản thương mại của nước đối lập”. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI 1. Sự bảo hộ mậu dịch Theo Wikipedia tiếng Việt, “Bảo hộ mậu dịch là thuật ngữ trong kinh tế học quốc tế chỉ việc áp dụng nâng cao một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ, v.
hay việc áp đặt thuế xuất nhập khẩu cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu nào đó để bảo vệ ngành sản xuất các mặt hàng tương tự (hay dịch vụ) trong một quốc gia nào đó.” [12] Chính phủ của một quốc gia sẽ áp đặt các tiêu chuẩn hoặc thuế nhập khẩu nói trên với hàng hóa và hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài khi họ nhận thấy việc nhập khẩu đang gây khó khăn cho hàng hóa trong nước. Khi một quốc gia xuất hiện tình trạng thâm hụt cán cân thương mại đối với một quốc gia khác thì quốc gia này sẽ nỗ lực làm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia đó để có thể làm cân bằng thương mại. Nếu như việc áp dụng các tiêu chuẩn với hàng hóa và quá trình sản xuất khiến hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài không thuận lợi thì thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp nước ngoài vì giá hàng hóa tăng cao, mất đi tính cạnh tranh. Dù bảo hộ theo phương pháp nào thì chính sách bảo hộ mậu dịch cũng gây khó dễ cho doanh nghiệp nước ngoài, tạo điều kiện để hàng hóa trong nước thoát khỏi sự cạnh tranh khốc liệt.
Hành vi bảo hộ mậu dịch một cách quá mức gây ảnh hưởng đến việc xuất khẩu của quốc gia đối kháng. Để đáp trả, các quốc gia đối kháng và cả những quốc gia bị ảnh hưởng bởi việc bảo hộ này cũng sẽ áp dụng các tiêu chuẩn hoặc thuế nhập khẩu tương tự lên các mặt hàng chủ lực của quốc gia ban đầu. Đó 10 là lúc chiến tranh thương mại nổ ra. Căng thẳng sẽ còn leo thang khi các quốc gia không dừng lại việc đưa ra các biện pháp trả đũa ngày một nặng nề hơn.
Gia tăng vị thế quốc gia trong nền kinh tế thế giới Các quốc gia luôn luôn nỗ lực để duy trì và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, nhất là khi đang có thế mạnh sản xuất trong một lĩnh vực cụ thể. Khi một quốc gia có quan hệ thương mại với mình đang phát triển vượt trội và có khả năng đe dọa đến vị trí của mình trong nền kinh tế, nếu muốn kìm hãm sự phát triển này để bảo toàn vị trí mình đang có thì việc gia tăng thuế quan và hàng rào thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước đó cũng là một phương pháp. Áp mức thuế cao sẽ khiến quốc gia đó khó khăn trong việc mang hàng hóa ra nước ngoài và kết quả là giảm giá trị xuất khẩu. Hơn thế nữa, quyết định tham gia chiến tranh thương mại, các quốc gia sẽ phải tính toán cực kỳ cẩn trọng để đưa ra những đối sách, các biện pháp ứng phó và trả đũa phù hợp để vừa gây sức ép lên đối phương, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế nội địa.
Quá trình này sẽ mất nhiều thời gian và gây phân tán các nỗ lực phát triển sản xuất, làm chậm lại tốc độ vươn lên dẫn đầu của một quốc gia. Nhờ vậy, quốc gia khởi động chiến tranh thương mại có thêm thời gian và cơ hội để củng cố vị trí vốn có của mình, kìm hãm tốc độ phát triển của nước đối thủ. Trừng phạt các hành vi thương mại thiếu công bằng Các hành vi thương mại không công bằng làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế cũng là một lý do khiến chiến tranh thương mại nổ ra. Nếu nghi ngờ một hoạt động giao thương hàng hóa nào có dấu hiệu không công bằng như trợ giá để bảo hộ, bán phá giá, đánh cắp sở hữu trí tuệ,… quốc gia bị ảnh hưởng sẽ tiến hành điều tra để đưa ra kết luận cũng như tính toán những thiệt hại mà mình phải gánh chịu.
Sau đó, các biện pháp kinh tế, tài chính sẽ được đưa ra như biện pháp để trừng phạt. Quốc gia bị áp thuế sẽ đáp trả những mức thuế hay các rào cản tương đương. Những việc làm này hình thành một cuộc chiến tranh thương mại. Chiến tranh gỗ xẻ mềm giữa Mỹ và Canada năm 1982 là một ví dụ.
Canada thu hoạch gỗ từ các khu rừng thuộc sở hữu công sau đó bán với mức giá do chính phủ quy định. Trong khi đó, Mỹ khai thác gỗ từ rừng sở hữu tư nhân và bán với giá thị trường. Mỹ cho rằng Canada đã có hành vi trợ giá khiến gỗ của Mỹ mất đi mức giá cạnh tranh, gây tổn hại cho ngành công nghiệp gỗ mềm và các ngành phụ trợ. Năm 2017, Ủy ban 11 Thương mại Quốc tế Mỹ ra quyết định sơ bộ khẳng định các sản phẩm gỗ mềm của Canada “được trợ cấp và bán tại Mỹ với giá thấp hơn giá trị thực” và áp thuế chống trợ cấp 14,25%, thuế chống bán phá giá 6,58% lên gỗ từ Canada nhập vào.
Hàng loạt các doanh nghiệp chế biến gỗ cũng như công nghiệp gỗ xẻ của Canada đã tổn thất nặng nề. Đáp trả của Canada là đệ đơn kiến nghị lên WTO để nhóm trọng tài phán xét và đưa ra quyết định với việc đánh thuế của Mỹ. Gần hơn, tháng 7 năm 1993, EU đá áp thuế cao lên chuối nhập khẩu từ các quốc gia Mỹ La tinh, trong khi lại ưu ái về thuế quan cho các nước vùng Caribean, Thái Bình Dương hay các nước châu Phi trước kia từng là thuộc địa của châu Âu. Hành động này đã chịu sự đáp trả mạnh mẽ của các quốc gia Mỹ Latinh và Mỹ.
Riêng với Mỹ, mặc dù Mỹ không trực tiếp xuất khẩu chuối sang EU với số lượng lớn nhưng 3 trong số các nhà sản xuất có trang trại trồng chuối ở Mỹ Latinh bị đánh thuế lại thuộc sự sở hữu của các tập đoàn đa quốc gia có trụ sở tại quốc gia này. Mỹ cũng như các quốc gia bị áp thuế nhập khẩu đã đệ trình đơn kiện lên WTO. Tận đến năm 2009, hai bên mới đạt được thỏa thuận về việc cắt giảm thuế. Xuất phát từ yếu tố chính trị Chiến tranh thương mại không đơn thuần chỉ là những tranh chấp một cách nhỏ lẻ giữa hai quốc gia để có được những lợi ích kinh tế cho đất nước.
Mức độ của chiến tranh thương mại là một cuộc chiến lớn mà đã tham gia thì chắc chắn các bên sẽ thiệt hại rất nhiều. Nhưng các bên vẫn quyết định khai hỏa cho các cuộc chiến tranh như vậy, vì có thể qua cuộc chiến đó, họ sẽ giành được cả những mục đích chính trị nhất định. Những sức ép do kinh tế, thương mại gây ra là rất lớn và chúng có đủ sức để giúp các nhà lãnh đạo đạt được mục đích chính trị mà họ mong muốn. Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc cũng là một cuộc chiến kinh tế có yếu tố chính trị trong đó.
Quyết định khởi đầu một cuộc chiến thương mại của tổng thống Donald Trump phần nào được lý giải bởi những hứa hẹn khi ông lên cầm quyền và dẫn dắt Hoa Kỳ năm 2016. “Nước Mỹ trên hết”, “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại” là những hứa hẹn mà ông Trump đã nêu ra. Chiến tranh thương mại với những đòn thuế áp lên thép, nhôm và hàng loạt hàng hóa Trung Quốc thể hiện rằng ông luôn nhớ và cố gắng thực hiện lời hứa đó với những người đã ủng hộ, cố gắng củng cố lại vị trí số một của Mỹ trên thế giới. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI 1.
Đánh thuế cao vào các sản phẩm quan trọng Khi một quốc gia thâm hụt thương mại với một quốc gia khác, nghĩa là lượng nhập khẩu đã vượt quá xa so với lượng xuất khẩu, thì quốc gia bị thâm hụt sẽ sử dụng thuế nhập khẩu cao như một biện pháp để hạn chế lượng hàng nhập vào. Thuế nhập khẩu tăng đồng nghĩa với việc giá hàng nhập khẩu sẽ tăng lên theo và người dân sẽ phải trả nhiều tiền hơn để mua hàng hóa mà họ muốn. Trong khi đó, giá hàng hóa nội địa không đổi và thấp hơn, cạnh tranh hơn. Kết quả là hàng nhập khẩu mất đi tính cạnh tranh và số lượng nhập khẩu giảm.
Đây là biện pháp nhanh nhất và được sử dụng nhiều nhất khi các nước tiến hành chiến tranh thương mại. Tuy nhiên, quyết định xem hàng hóa sẽ đánh thuế là gì, mức thuế sẽ áp là bao nhiêu là một quyết định không hề dễ dàng, phải trải qua sự tính toán rất kĩ lưỡng vì hàng hóa gây ra thâm hụt thương mại có thể là hàng thiết yếu, không tự sản xuất được và nếu áp thuế quá cao thì người dân sẽ phải trả mức giá quá đắt. Ví dụ, trong cuộc chiến thương mại của Mỹ và EEC giai đoạn 1962 – 1964, Đức thông qua biểu thuế quan đối ngoại chung của các nước châu Âu khiến gà của Mỹ nhập khẩu vào Đức chịu mức thuế cao trong khi gà của Pháp và Hà Lan thì không. Khi được Hội đồng đại diện cho Hiệp định Chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) xác nhận Mỹ đã chịu thiệt hại bởi việc tăng thuế, Mỹ đã mạnh tay đáp trả mức thuế rất cao vào xe tải của Đức, rượu Cognac của Pháp và bột khoai tây và hồ bột (dextrin) từ Hà Lan.
Tại sao lại là các mặt hàng này? Vào những năm 60 của thế kỷ trước, đây là những sản phẩm Mỹ nhập khẩu gần như độc quyền từ các Đức, Pháp, Hà Lan. Chịu mức thuế cao như vậy nhưng dường như các nước này không thể thoát khỏi sự cạnh tranh của hàng nội địa Mỹ và tìm đến các thị trường khác dễ dàng hơn. Các biện pháp phi thuế quan Các biện pháp phi thuế quan là các biện pháp thuộc về chính sách của chính phủ mà không phải là các quy định liên quan đến thuế quan, có ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa.