CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TIẾT KIỆM ĐIỆN 1. THỰC TRẠNG TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Thế giới đang đối mặt với những thách thức như gia tăng dân số, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng cao,….Trong khi các nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt dần. Theo báo cáo của Tập đoàn dầu khí Anh BP đã công bố báo cáo về triển vọng năng lượng trên toàn cầu "World Energy Outlook." Dự báo, đến năm 2035 nhu cầu toàn thế giới về năng lượng sẽ tăng chậm lại, từ mức 55% năm 2012 xuống còn 41%. Khu vực tăng nhu cầu tiêu thụ là các nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh, như Trung Quốc và Ấn Độ.
Cũng theo báo cáo này trong hai thập kỷ tới, nhu cầu dầu mỏ sẽ tăng trung bình hàng năm 1,5%, trong đó tăng cao hơn vào đầu kỳ và giảm còn 1,2% trong giai đoạn 2020- 2035. Gần như toàn bộ nhu cầu bổ sung về dầu mỏ (khoảng 19 triệu thùng/ngày so với năm 2012) là phục vụ thị trường Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Trung Đông.Trong các nguồn năng lượng, khí đốt sẽ củng cố vị trí của mình, than và dầu mỏ sẽ giảm dần vai trò, và đến 2035, thị phần của ba nguồn năng lượng này sẽ gần bằng nhau, chiếm khoảng 26-27% mỗi loại trong thị trường tiêu thụ năng lượng thế giới. Thủy điện và năng lượng tái tạo sẽ giành 5-7% mỗi loại trên thị trường này[1]. Theo dự báo, đến năm 2030 nhu cầu năng lượng sẽ tăng lên 60% so với năm 2005, với tốc độ phát triển kinh tế trung bình 3,5-4% trên toàn cầu và dân số thế giới tăng lên 8,3 tỉ người.
Trong các nước phát triển, nhu cầu về năng lượng sẽ tăng từ 3 đến 3,5 lần so với OEDC.Trong đó, Trung Quốc, Ấn Độ chiếm hơn 50%, theo ước tính tới 2020 Mỹ cần thêm 50% khí và 1/3 lượng dầu hiện nay. Hiện nước Mỹ, dầu mỏ chiếm khoảng 40% nhu cầu năng lượng trong nước. Các dự báo đều cho rằng, nguồn cung dầu mỏ của thế giới chỉ gia tăng thêm trong khoảng nửa thập kỉ nữa trước khi đạt đỉnh điểm rồi bắt đầu giảm, còn nguồn cung khí đốt sẽ tiếp tục tăng thêm 1-2 thập kỷ rồi cũng giảm. Điều này làm cho cuộc cạnh tranh giành giật các nguồn tài nguyên như: dầu mỏ, khí đốt, than và uranium ngày càng quyết liệt trên toàn cầu, quyền lực của cải đang chuyển dần từ những nước thiếu năng lượng (LUAN.giang HVTH: Đoàn Tô Minh Trí 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Luận văn GVHD: TS.
15 Trillion Kilowatthours 10 Liquids Nuclear Renewables 5 Natural Gas Coal 0 2006 2010 2015 2020 2025 2030 Năm Hình 1.1: Lượng điện năng trên thế giới được phát từ các nguồn [3] Ngành năng lượng Việt Nam hai mươi năm qua đã phát triển mạnh trong tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối và xuất nhập khẩu năng lượng. Điều đó đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển và đổi mới đất nước. Đến nay, hệ thống năng lượng Việt Nam luôn dựa trên ba trụ cột chính là dầu khí, than đá và điện lực. Thủy điện chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất điện Việt Nam.
Về hiện trạng tiêu thụ năng lượng, giai đoạn 2000-2009, tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp của Việt Nam tăng trưởng trung bình 6,54%/năm và đạt 57 triệu TOE vào năm 2009. Tiêu thụ than tăng trung bình 12,12%/năm, xăng dầu tăng 8,74%/năm, khí tăng 22,53%/năm, điện tăng 14,33%/năm, đạt 74,23 tỷ kWh năm 2009. Tuy vậy, quy mô và hiệu quả ngành năng lượng còn thấp, biểu hiện ở chỉ tiêu (LUAN.giang HVTH: Đoàn Tô Minh Trí 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Luận văn GVHD: TS. Võ Viết Cường năng lượng trên đầu người còn thấp xa với trung bình của thế giới, ngược lại, cường độ năng lượng cao hơn gần gấp hai lần trung bình thế giới.
Trạng thái an ninh năng lượng Việt Nam chưa được bảo đảm, hiện tượng xa thải phụ tải điện xảy ra thường xuyên vào kỳ cao điểm. Dự trữ dầu quốc gia chưa đủ khả năng bình ổn giá khi xãy ra khủng hoảng giá dầu trên thị trường quốc tế. Theo dự báo, khả năng khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp ở Việt Nam đến năm 2050 sẽ có các chỉ số cụ thể như sau: Sản lượng Than đá là từ 95 – 100 triệu tấn/năm (trong đó phần lớn dành cho phát điện); dầu thô khoảng 21 triệu tấn/ năm (chủ yếu dùng để cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước); khí đốt khoảng 16,5 tỷ m3/năm (trong đó có khoảng 14 – 15 tỷ m3 dành cho phát điện); thủy điện khoảng 60 tỷ kWh/năm; nguồn năng lượng tái tạo khoảng 3500 – 4000 MW.1:Một số chỉ tiêu cơ bản trong kịch bản phát triển năng lượng Việt Nam đến 2030 [4] Năm Chỉ tiêu 2010 2015 2020 2015 2030 Tổng tiêu thụ NL sơ cấp (Mtoe) 52.82 NL sơ cấp cho sản xuất điện (Mtoe) 19.71 Khai thác nhiên liệu hóa thạch 51.39 30 Xuất-Nhập khẩu NL (Mtoe) 11.41 Sản xuất điện (TWh) 96.6 470 650 Phát thải SOx(kTN) 633 959 1374 1783 2271 Phát thải NOx (kTN) 335 509 731 960 1217 Phát thải CO2 (kTN) 110782 169588 242702 321790 409293 (LUAN.giang HVTH: Đoàn Tô Minh Trí 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Luận văn GVHD: TS. Ý NGHĨA CỦA VIỆC TIẾT KIỆM ĐIỆN Năng lượng nói chung và điện năng nói riêng là nhân tố vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Chỉ số phát triển điện năng thường được coi như biểu hiện trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Người ta đánh giá nền công nghiệp của một nước qua năng lượng điện và độ tăng trưởng kinh tế của một nước qua mức tăng trưởng năng lượng điện của nước đó. Mặc dù trên thế giới sự phát triển của ngành điện càng ngày càng lớn mạnh và vô cùng đa dạng như: nhiệt điện, thuỷ điện, năng lượng mặt trời, sức gió. cho đến năng lượng nguyên tử nhưng tình trạng thiếu điện vẫn được xem là yếu tố hàng đầu trong tiến trình phát triển kinh tế ở mọi giai đoạn và ở nhiều nước.
Do vậy tiết kiệm năng lượng nói chung, tiết kiệm điện nói riêng luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của toàn cầu, nhất là khi nguồn năng lượng ngày càng cạn kiệt mà với xu thế phát triển của khoa học công nghệ, nhu cầu của con người càng tăng lên với các phương tiện, thiết bị máy móc hiện đại đòi hỏi sử dụng năng lượng ngày càng nhiều. Việt Nam chúng ta là một trong những nước nghèo về các nguồn tài nguyên năng lượng, mức quy đổi về nguồn năng lượng sơ cấp tính bình quân trên đầu người rất thấp so với mức bình quân của nhiều nước trong khu vực. Nguồn điện năng của Việt Nam tập trung chủ yếu vào hai nguồn phát chính đó là nhiệt điện và thủy điện, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện năng ngày càng tăng như hiện nay, trong những năm qua Việt Nam đã và đang không ngừng xây dựng, nâng cao công suất phát điện cho các nhà máy thủy điện như: xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La có công suất 2.400MW, nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân có công suất 5.600MW, nhà máy nhiệt điện sông Hậu có công suất 1.200MW,… Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao và trong tương lai sẽ vẫn còn tiếp tục phát triển. Vì vậy, để giảm bớt tình hình tiêu thụ điện năng như hiện nay, đòi hỏi chúng ta cần phải xây dựng các chiến lược phát triển các nguồn năng lượng bền vững trong tương lai.
Đồng thời, phải có kế hoạch sử dụng nguồn năng lượng nói chung và nguồn điện nói riêng một cách tiết kiệm và hiệu (LUAN.giang HVTH: Đoàn Tô Minh Trí 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Luận văn GVHD: TS. Võ Viết Cường quả, nhằm xây dựng nền kinh tế nước nhà theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Một trong những điều kiện tiên quyết để hạn chế việc tiêu hao điện năng là đầu tư tiết kiệm điện trong hoạt động sản xuất. Hiện nay, sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trong việc tiêu thụ điện năng so với các lĩnh vực khác có cùng mức tiêu hao năng lượng.
Để giảm thiểu tổn thất điện năng nêu trên trong những năm qua các doanh nghiệp Việt Nam đã mạnh dạn đầu tư thay đổi công nghệ, thay thế các công nghệ mới, loại bỏ dần các trang thiết bị có hiệu suất thấp thay vào đó các thiết bị có hiệu suất cao, thực hiện các báo cáo kiểm toán năng lượng cho các doanh nghiệp sử dụng năng lượng trọng điểm,… đây được xem là bước tiến khả quan cho Việt Nam trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đồng thời hướng Việt Nam đến một nền kinh tế “xanh” trong tương lai. TÌNH HÌNH TIẾT KIỆM ĐIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ CỦA VIỆT NAM 1. Tình hình tiết kiệm điện trên thế giới Trên thế giới, đã nhiều năm nay các chương trình tiết kiệm điện đã được các Chính phủ rất quan tâm và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn.
Nhất là khi giá dầu, than tăng không ngừng thì việc cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết. Nguồn năng lượng trên thế giới đang ngày càng cạn kiệt nên xu hướng của toàn cầu là tìm kiếm các công nghệ giúp tiết kiệm năng lượng. Điều này nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ các nước châu Âu vốn lo ngại về sự sụt giảm của các nguồn cung cấp năng lượng hiện nay. Vì thế, bên cạnh những quy định khắt khe hơn về việc sử dụng năng lượng, chính phủ các nước này cũng bắt đầu tài trợ tiền và giảm thuế cho những hãng xây dựng loại nhà tiết kiệm năng lượng.
Nước Mỹ cũng không đứng ngoài xu hướng này. Thông qua chương trình Energy Star của mình, Washington đã ban hành những quy định nghiêm ngặt về năng lượng trên mọi lĩnh vực, từ xây dựng nhà đến thiết bị điện hay gia dụng. Đồng thời ngày càng có nhiều công nghệ mới giúp tiết kiệm năng lượng được phát minh và sử dụng trên thế giới.giang HVTH: Đoàn Tô Minh Trí 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.giang Luận văn GVHD: TS. Võ Viết Cường Cũng như nhiều nước châu Âu khác, ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới.
Chính phủ Đức đã bỏ rất nhiều công sức vào việc thúc đẩy phát triển kỹ thuật năng lượng có khả năng tái sinh. Đến nay, Đức đầu tư khoảng 1,74 tỷ Euro vào lĩnh vực này.