Chương 1: Tổng quan Chương 2: Tổng quan về các phương pháp dự báo phụ tải điện Chương 3: Phương pháp dự báo trên cơ sở mạng nơron nhân tạo Chương 4: Giải thuật dự báo phụ tải đề xuất Chương 5: Chương trình dự báo và kết quả dự báo phụ tải cho tỉnh Kiên Giang Chương 6: Kết luận và hướng phát triển đề tài Tài liệu tham khảo Phụ lục HVTH: Trịnh Tiến Uy - 1620632 3 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƢƠNG PHÁP DỰ BÁO PHỤ TẢI ĐIỆN Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được. Khi tiến hành dự báo cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số mô hình toán học. Mục tiêu cuối cùng của tất cả các dự báo là kết quả dự báo phải bám sát giá trị thực tế. Muốn có dự báo với sai số nhỏ, phải chọn dự báo tối ưu và kết quả dự báo phụ thuộc các yếu tố sau: ngày, giờ, tháng: giá trị phụ tải giờ trong các ngày làm việc thường cao hơn phụ tải giờ các ngày nghỉ cuối tuần; Thời tiết trong ngày: bao gồm các thông số: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và hướng gió, cường độ ánh sáng,.; Kế hoạch sửa chữa lớn trong ngày có cắt điện phụ tải; Tăng trưởng kinh tế và dân số; Chỉ số tiêu dùng; Ngày đặc biệt trong năm: các ngày lễ, ngày tết âm lịch, dương lịch, ngày 30/4,.; Sản lượng công nghiệp; Xu thế sử dụng điện.
Dự báo luôn giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực, quyết định kế hoạch sản xuất, hướng đầu tư phát triển trong tương lai. Do đó dự báo là đi tìm một mô hình toán thích hợp mô tả mối quan hệ phụ thuộc của các đại lượng cần dự báo với các yếu tố khác, hay chính bản thân nó; nhiệm vụ chính của dự báo là việc xác định các tham số mô hình. Về mặt lý luận thì các tính chất của mô hình dự báo được nghiên cứu trên cơ sở giả định rằng nó được ứng dụng để dự báo một quá trình nào đó được sinh ra từ một mô hình giải tích. Hiện nay, khi dự báo phụ tải thường sử dụng các phương pháp như tiên đoán, ngoại suy xu hướng, chuyên gia, mô phỏng (mô hình hóa), ma trận tác động qua lại, kịch bản, cây quyết định, dự báo tổng hợp,.
Phƣơng pháp dự báo truyền thống 2. Phƣơng pháp hệ số đàn hồi [15] Phương pháp này xác định mối tương quan giữa nhu cầu tiêu thụ điện (công suất, điện năng) của phụ tải với tăng trưởng kinh tế (hệ số đàn hồi giữa nhu cầu điện HVTH: Trịnh Tiến Uy - 1620632 4 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh và GDP, tăng trưởng công nghiệp, thương mại, hệ số tiết kiệm năng lượng. Mối tương quan này được thể hiện qua hệ số đàn hồi như sau: A A% ET A (2.1) Y % Y Y Trong đó: αET là hệ số đàn hồi; A% và Y% là tăng trưởng của điện năng, công suất và tăng trưởng kinh tế (hệ số đàn hồi giữa nhu cầu điện và GDP, tăng trưởng công nghiệp, thương mại.); A là điện năng, công suất; Y là số liệu tăng trưởng kinh tế (hệ số đàn hồi giữa nhu cầu điện và GDP, tăng trưởng công nghiệp, thương mại, hệ số tiết kiệm năng lượng. Các hệ số đàn hồi được xác định theo từng ngành kinh tế, toàn quốc và từng miền lãnh thổ.
Việc dự báo nhu cầu điện năng toàn quốc được tổng hợp theo phương pháp từ dưới lên (Bottom-up) từ dự báo nhu cầu điện năng cho các ngành kinh tế, khu vực dân dụng và từ các vùng lãnh thổ. Phƣơng pháp tính tƣơng quan - xu thế [15] Phương pháp này xác định mối tương quan giữa nhu cầu tiêu thụ điện (công suất, điện năng) của phụ tải với các yếu tố ảnh hưởng quan trọng (tăng trưởng kinh tế, giá điện, thời tiết, tỷ giá…) và được thực hiện trên nền Excel với các bước sau đây: 1. Dự báo đồ thị phụ tải giờ tới Đối với từng miền, so sánh các biểu đồ ngày quá khứ thu được với biểu đồ ngày hiện tại D để tìm được biểu đồ có hình dạng giống nhất với biểu đồ ngày D. Cách so sánh được thực hiện tự động với hàm: Correl (array1, array2) Với thuật toán sau: Correl( X , Y ) ( x x )( y y ) (2.2) ( x x ) ( y y) 2 2 Trong đó: X là công suất phụ tải 24 giờ thực tế của ngày D - i; x là công suất trung bình 24 giờ thực tế của ngày D - i; y là công suất trung bình 24 giờ dự báo HVTH: Trịnh Tiến Uy - 1620632 5 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh của ngày D; Y là công suất phụ tải 24 giờ dự báo của ngày D.
Hàm Correl trả lại kết quả là sự tương quan giữa hai biến mảng X, Y. Nếu biến mảng X, Y càng giống nhau thì kết quả của hàm Correl càng gần 1. Do vậy sau khi so sánh 21 ngày quá khứ với ngày hiện tại D sẽ tìm được ngày có hình dạng phụ tải giống nhất với ngày D, giả sử ngày D - i. Đối với từng miền, sử dụng hàm xu thế để dự báo công suất phụ tải cho 04 giờ tới (từ giờ H đến giờ H + 3) với hàm FORECAST và cú pháp lệnh sau: FORECAST ( x, known _ y ' s, known _ x' s ) (2.3) Trong đó: x là công suất phụ tải giờ H - 1; known _ y ' s là công suất phụ tải 05 giờ quá khứ kể từ giờ H - 1 của ngày D i ; known _ x' s là công suất phụ tải 05 giờ quá khứ kể từ giờ H - 1 của ngày D.
So sánh đồ thị phụ tải dự báo với đồ thị phụ tải quá khứ Sau khi có đồ thị phụ tải dự báo từng miền cho 04 giờ tới, tiến hành so sánh đồ thị phụ tải này với đồ thị phụ tải quá khứ từng miền theo các giá trị Correl từ cao đến thấp (so sánh biểu đồ quá khứ có dạng giống nhất rồi đến các biểu đồ quá khứ ít giống hơn). Quá trình so sánh này để xử lý các số liệu phụ tải quá khứ có thể bị sai do cắt tải, do lỗi SCADA (không thu thập được các số liệu phụ tải quá khứ). Hiệu chỉnh lại đồ thị phụ tải Sau khi so sánh đồ thị phụ tải dự báo với đồ thị phụ tải quá khứ và đồ thị phụ tải hiện tại, nếu hàm Correl cho kết quả < 0,9 thì cho phép nhân các kết quả tương ứng với hệ số chuyên gia hchuyên_gia theo quy định: 0,9 hchuyên _ gia 1,1. Phƣơng pháp tính trực tiếp [15] Nội dung của phương pháp này là xác định nhu cầu điện năng của năm dự báo, dựa trên tổng sản lượng kinh tế của các ngành của năm đó và suất tiêu hao điện năng đối với từng loại sản phẩm.
Đối với những trường hợp không có suất tiêu hao điện năng thì được xác định nhu cầu điện năng cho từng trường hợp cụ thể (ví dụ như: công suất điện trung bình cho mỗi hộ gia đình, bệnh viện,…). Ƣu điểm: Tính toán đơn giản. HVTH: Trịnh Tiến Uy - 1620632 6 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh Ngoài yêu cầu xác định tổng lượng điện năng dự báo chúng ta còn biết được tỉ lệ sử dụng điện năng trong các ngành kinh tế, chẳng hạn như điện năng dùng cho công nghiệp, nông nghiệp, dân dụng,… cũng như xác định được nhu cầu điện ở các khu vực địa lý khác nhau. Từ đó có thể đề xuất phương hướng điều chỉnh, quy hoạch cho cân đối.
Nhƣợc điểm: Việc xác định mức độ chính xác của phương pháp này cũng gặp nhiều khó khăn vì nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của tổng sản lượng các ngành kinh tế quốc dân trong tương lai dự báo như phụ thuộc vào suất tiêu hao điện năng của một đơn vị sản phẩm sản xuất ra của các ngành kinh tế ấy. Do đó, phương pháp này thường được áp dụng để dự báo nhu cầu điện năng cho thời gian ngắn và trung bình. Phƣơng pháp chuyên gia [15] Phương pháp này dựa trên những hiểu biết sâu sắc của các chuyên gia giỏi về các lĩnh vực của các ngành để dự báo. Trong lĩnh vực điện năng, người ta lấy trung bình trọng số ý kiến của các chuyên gia phát biểu về năng lượng của nước mình để dự báo nhu cầu sử dụng điện.
Việc lấy ý kiến được tiến hành theo các bước sau: Chuyên gia cho điểm theo từng tiêu chuẩn. Mỗi tiêu chuẩn có một thang điểm thống nhất. Lấy trọng số của các ý kiến của hội đồng tư vấn để tổng hợp. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ mang tính chủ quan nên độ chính xác và độ tin cậy không cao.
Phƣơng pháp hồi quy [19] Phương pháp này xác định mối tương quan giữa nhu cầu tiêu thụ điện (công suất, điện năng) của phụ tải với các yếu tố ảnh hưởng quan trọng (tăng trưởng kinh tế, giá điện, thời tiết, tỷ giá…). Mối tương quan này được phản ánh qua hai loại phương trình như sau: Phương trình dạng tuyến tính: HVTH: Trịnh Tiến Uy - 1620632 7 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh n Y a0 ai .4) i 1 Trong đó: n là số thống kê quá khứ (số năm, tháng, tuần, ngày); a0, ai là các hệ số; Xi là số liệu quá khứ của các yếu tố ảnh hưởng quan trọng (tăng trưởng kinh tế, giá điện, thời tiết, tỷ giá…); Y là hàm số điện năng, công suất của năm (tháng, tuần, ngày, giờ). Phương trình dạng phi tuyến: Y a0 .5) Trong đó: n là số thống kê quá khứ (số năm, tháng, tuần, ngày); a0, ai là các hệ số; Xi là số liệu quá khứ của các yếu tố ảnh hưởng quan trọng (tăng trưởng kinh tế, giá điện, thời tiết, tỷ giá…); Y là hàm số điện năng, công suất của năm (tháng, tuần, ngày, giờ). Dạng phương trình 2 có thể đưa về dạng phương trình 1 bằng cách lấy logarit 2 vế.
Việc lựa chọn hàm hồi quy được tiến hành trên cơ sở so sánh các hệ số tương quan, hệ số tương quan của dạng phương trình nào lớn thì chọn dạng phương trình đó.