Chương 1: Giới thiệu luận văn - Chương 2: Tổng quan - Chương 3: Phương pháp tiếp cận - Chương 4: Áp dụng vào lưới điện phân phối điện lực Chợ Gạo - Chương 5: Kết luận và hướng phát triển 4 Luan van Chương 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan Hơn 60 năm phát triển, Tổng Công ty Điện lực Miền Nam đã và đang nỗ lực trong “cuộc chiến” giảm thiểu tổn thất về điện năng. Theo thống kê của EVN.SPC, năm 2016 tổng tổn thất điện năng 6,66 %, tổng sản lượng điện thương phẩm đạt 27. Một số nguyên nhân chính gây tổn thất điện như thiếu công suất vô công giờ cao điểm, dòng điện tải trên hệ thống sẽ rất lớn dẫn đến tổn thất trên đường dây tăng.
Một vấn đề khác là trong cơ cấu phụ tải điện ánh sáng, sinh hoạt vẫn chiếm tỷ trọng lớn, sản lượng điện công nghiệp thấp và công tác quản lý vẫn còn hạn chế, vẫn còn tổn thất thương mại. Một đường dây phân phối luôn có nhiều loại phụ tải khác nhau ( ánh sáng sinh hoạt, thương mại dịch vụ, công nghiệp …) và các phụ tải này được phân bố không đồng đều giữa các đường dây. Mỗi loại tải lại có thời điểm đỉnh tải khác nhau và luôn thay đổi trong ngày, trong tuần và trong từng mùa. Vì vậy, trên các đường dây, đồ thị phụ tải không bằng phẳng và luôn có sự chênh lệch công suất tiêu thụ.
Điều này gây ra quá tải đường dây và làm tăng tổn thất trên lưới điện phân phối. Chính vì những điều này, một bài toán khó khăn đã được đặt ra là bằng cách nào đơn giản nhất có thể với kinh phí thấp nhất để làm giảm tổn thất điện năng trên toàn lưới điện. Về mặt lý thuyết, có nhiều biện pháp để giảm tổn thất công suất và nâng cao độ tin cậy trên lưới điện phân phối như: - Nâng cao điện áp vận hành lưới điện phân phối, - Giảm truyền tải công suất phản kháng trên lưới điện bằng cách lắp đặt tụ bù - Tối ưu hóa các chế độ vận hành lưới điện - Hạn chế vận hành không đối xứng 5 Luan van - Giảm chiều dài đường dây - Cải tạo nâng tiết diện dây dẫn hoặc giảm bán kính cấp điện của các trạm biến áp tỷ lệ tổn thất thất thấp, lõi thép làm bằng vật liệu thép tốt. Cân bằng pha Với sự tăng trưởng ấn tượng về số lượng và kích thước của các phụ tải một pha trong hệ thống phân phối ở Việt Nam nói chung và tổng Công ty Điện lực miền Nam nói riêng, sự mất cân đối trong các dòng pha dẫn đến các dòng điện trên dây trung tính quá mức có phép gây ra các sự cố quá tải và làm tăng tổn hao công suất trên lưới phân phối.
Để giải quyết việc này, các kỹ sư sẽ tính toán và thực hiện phân lại tải giữa các pha có thể làm cải thiện sự cân bằng pha từ tuyến dây này sang tuyến dây khác và làm giảm dòng điện trung tính sau khi phân lại tải. Tuy nhiên, nó rất tốn nhiều công sức và tốn thời gian cho các kỹ sư phân phối để cải thiện sự cân bằng ba giai đoạn của các nhà cung cấp phân phối theo thông lệ. Hiên nay, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới đã thực hiện việc cân bằng tải giữa các pha trên lưới trung thế bằng cách dùng các máy biến áp 3 pha đấu /Yo lần lượt cho phía trung thế và hạ thế. Để tăng mức độ cân bằng pha trên lưới trung thế nhằm giảm tổn hao năng lượng, các kỹ sư còn phải cân bằng pha lưới hạ thế sao cho dòng điện trên dây trung tính có giá trị bé nhất trên toàn lưới hạ thế.
Tuy nhiên, ở khu vực nông thôn, các khách hàng có công suất phụ tải nhỏ, nằm rải rác nên việc kéo lưới trung thế 3 pha tạo gây nên một áp lực chi phí lớn so với hiệu quả kinh doanh điện năng. Lưới trung thế 1 pha và máy biến áp 1 pha chủ yếu được sử dụng và lưới hạ thế 2 pha 3 dây nằm giảm chi phi đầu tư cũng như giảm tổn hao năng lượng trên lưới hạ thế. Gần đây do sự phát triển đáng kể của các hộ nông nghiệp (ở Việt Nam) hay các hộ 1 pha (trên thế giới) nên lưới một pha trung thế phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phụ tải. Điều này gây nên sự mất cân bằng trên lưới trung thế nghiêm trọng và làm tăng tổn thất điện năng, gây nhiễu thông tin liên lạc và gián đoạn cung cấp điện do tác động của relay dòng điện [1].
Để giải quyết sự mất cân bằng pha của hệ thống phân phối, tác giả trong [2] đã xây dựng bài toán cân bằng pha như một hàm mục tiêu quy hoạch tuyến tính rời rạc. Tuy nhiên, các tiêu chí ra quyết định cho trong mô hình chuyển tải giữa các 6 Luan van pha trong hệ thống phân phối có thể không được biểu diễn như một hàm tuyến tính. Ví dụ, vấn đề giảm thiểu tổn thất công suất của hệ thống là một hàm mục tiêu phi tuyến và rời rạc nên sẽ rất khó giải quyết một cách trọn vẹn. Phương pháp mô phỏng quá trình luyện kim (SA) cũng được áp dụng để giải quyết vấn đề thay đổi tải giữa các pha trong [3] là một vấn đề quy hoạch phi tuyến rời rạc trên diện rộng.
Trong [4], Chen và các cộng sự trình bày một giải thuật di truyền (GA) để tối ưu hóa sự sắp xếp pha cho các máy biến áp phân phối 1 pha nối với tuyến dây chính. Tuy nhiên, các phương pháp này không kết hợp các quy tắc heuristic được xây dựng từ tính chất vật lý của lưới điện hình tia nên thời gian giải lâu và phải ngừng cung cấp điện cho khách hàng khi chuyển nguồn từ pha này sang pha khác theo lịch trình để thực hiện chiến lược cân bằng pha. Trong [13], tác giả sử dụng các heuristic được xây dựng từ [5,6] đã thiết kế một hệ chuyên gia nhằm cải thiện mức độ cân bằng pha trong lưới phân phối. Các luật heuristic được thành lập do các kỹ sư và mô tả trong cơ sở tri thức của hệ chuyên gia.
Giải thuật giảm dòng trên dây trung tính thông qua việc thay đổi pha cấp điện cho các phụ tải 1 pha thông qua hàm mục tiêu là giảm tổn thất năng lượng trên toàn tuyến dây như hình. 7 Luan van Yes Yes No No Yes No Hình 2.1: Giải thuật giảm dòng trên dây trung tính thông qua việc thay đổi pha cấp điện 8 Luan van 2. Lắp đặt tụ bù Các bộ tụ bù được lắp đặt vào hệ thống lưới điện phân phối hình tia để điều chỉnh hệ số công suất, giảm tổn thất, cải thiện điện áp nút và có khả năng tăng công suất của tuyến dây tuy không nhiều. Với những mục tiêu khác nhau và tùy thuộc vào ràng buộc trong vận hành, vị trí và dung lượng tụ bù được tối ưu nhằm xác định loại tụ điện, kích cỡ, vị trí và các phương án điều khiển.
Cũng tương tư như nhiều bài toán trong hệ thống điện, bài toán tối ưu hoán vị và dung lượng tụ bù được xem là bài toán quy hoạch phi tuyến và rời rạc, tất nhiên sẽ xuất hiện rất nhiều điểm cực trị địa phương mà các giải thuật cần phải vượt qua. Về mặt toán học khi thay đổi vị trí tụ điện sẽ làm bài toán trở nên rời rạc, hầu hết các thuật toán tối ưu hóa thông thường không thể áp dụng trong thực tế vì không thể mô tả lưới điện phân phối có sự liên tục về giá trị phụ tải cung như vị trí phụ tải. Vì vậy theo [10-13] không nên áp dụng các phương pháp giải tích toán học nhằm mục đích chỉ ra ngay đáp số bài toán. Tối ưu vị trí và dung lượng tụ bù đã được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ trước, các phương pháp tiếp cận ban đầu có hiệu quả chủ yếu dựa trên các kỹ thuật heuristic được áp dụng cho các phương pháp gần đúng để giải quyết bài toán (bằng cách loại bỏ một số vấn đề phức tạp như mô tả toán học, đều kiện ràng buộc mà không ảnh hưởng nhiều đến kết quả bài toán).
Vào những năm 1980, các phương pháp tiếp cận yêu cầu có mức độ chặt chẽ hơn về cá mô hình và các diều kiện ràng buộc được đề xuất như minh họa bởi bài báo của Grainger [12], [13]. Baran-Wu [10] đã xây dựng vấn đề vị trí tụ điện như một chương trình phi tuyến rời rạc và tìm cách tìm ra lời giải bằng phép phân tách Benders. Cũng trong những năm này, thuật toán meta-heuristic được sử dụng như một phương pháp giải quyết vấn đề vị trí tụ điện: giải thuật luyện kim (SA) [1], thuật toán di truyền (GA) [3], và thuật toán tìm kiếm tabu trong [4]. Thuật toán lai [15] dựa trên tìm kiếm tabu dựa trên thuật toán heuristic phân tích độ nhạy được xem là có hiệu quả tốt trong việc giải quyết bài toán xác định vị trí và dung lượng tụ bù.
Các vị trí đặt tụ có thể chấp nhận được sẽ do người thiết kế đề xuất để giảm thiểu không gian tìm kiếm, sau đó giải thuật heuritic sẽ tính toán độ nhạy của 9 Luan van các nút và dựa vào độ nhạy này, các vị trí tụ bù thích hợp sẽ được đề xuất. Giả thuật nà có thể áp dụng cho lưới điện phân phối hình tia trên diện rộng. Giải thuật đề xuất được mô tả tại hình Hình 1.2: Sơ đồ thuật toán để chọn vị trí và số lượng các nút chính xác 2. Tái cấu hình lưới phân phối giảm tổn thất công suất Tuy các biện pháp này đều mang tính khả thi về kỹ thuật nhưng lại tốn các chi phí đầu tư và lắp đặt thiết bị.
Chẳng hạn, phụ tải có đặc điểm biến động theo thời gian và tăng lên theo khu vực, do đó dung lượng thiết bị bù công suất phản kháng tại các nút sẽ luôn thay đổi chứ không bất biến. Do vậy cần phải xác định lại các vị trí lắp đặt và điều chỉnh lượng công suất bù trên lưới điện khi cần thiết. Với vị trí lắp đặt và lượng 10 Luan van công suất bù tối ưu, có thể giảm tổn thất điện năng. Vận hành không đối xứng ảnh hưởng đến tỷ lệ tổn thất nhưng việc xác định và phân tích các phương án vận hành tìm ra phương án tối ưu rất khó khăn.