CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT NHÂN TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công, phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Do vậy tất cả tổ chức, các nước trên thế giới đều rất quan tâm, chú trọng đến nguồn nhân lực.
Vậy nguồn nhân lực là gì, được xem xét, nghiên cứu theo những góc độ nào? Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào thập niên 80 của thể kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Đó là sự đánh dấu chuyển đổi phương thức quản lý con người như lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác triệt để sức lao động sang phương thức mềm dẻo, tạo mọi điều kiện để con người phát triển khả năng tiềm ẩn trong quá trình lao động phát triển. Khái niệm nguồn nhân lực cũng được xem xét, nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau. Liên Hợp Quốc (WB.
World Development Indicators, London: Oxford, 2000) cho rằng “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.” Theo quan niệm này, nguồn nhân lực được nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò trong phát triển kinh tế xã hội. Con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển – vốn nhân lực. Theo David Begg (David Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (1995), Kinh tế học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.) “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại 8 thu nhập trong tương lai”.
Theo góc nhìn này, để mang lại những giá trị cho tương lai, cần phải đầu tư để phát triển nguồn nhân lực. Nguyễn Hữu Dũng (Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam (2003), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội) “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội“. Có nghĩa nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Nó không chỉ được nhìn nhận ở dạng tiềm năng, quan trọng hơn để tiềm năng này chuyển đổi thành những giá trị đích thực thì cần có các chính sách, thể chế để giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Theo Giáo trình Quản trị nhân lực tập1 trường Đại học Lao động Xã hội, TS Lê Thanh Hà chủ biên, “Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của con người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức.“ Như vậy nguồn nhân lực của tổ chức là sự tổng hoà của các mối quan hệ cá nhân cùng hỗ trợ để đạt được mục tiêu chung của tổ chức và mục tiêu riêng của cá nhân. Từ các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Như vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung xem xét nguồn nhân lực duới góc độ là tổng thể các tiềm năng lao động của cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức. Các tiềm năng lao động này là yếu tố cần được phát hiện, phát huy mang lại những thành công nhất định cho tổ chức.
Quản trị nhân lực Với mỗi cách tiếp cận và nhận thức khác nhau, quản trị nhân lực sẽ có những khái niệm khác nhau. Khi nhấn mạnh đến các hoạt động trong quá trình sử dựng nguồn nhân lực của một tổ chức, quản trị nhân lực được coi là 9 tất cả các hoạt động, chính sách và quyết định quản lý có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh đến đầu ra, đến mục tiêu của việc sử dụng nguồn nhân lực thì quản trị nhân lực được coi là những hoạt động nhằm tăng cường đóng góp hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức, đồng thời cố gắng đạt được mục tiêu của cá nhân. Theo George Bohlander, [25, tr4] “Quản trị nhân lực là quá trình quản lý con người để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Nó bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ việc phân tích môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp đến việc thiết kế công việc để chiến lược của doanh nghiệp thành công. Cụ thể quản trị nhân lực đòi hỏi phải nhận diện, tuyển mộ và lựa chọn được những người phù hợp với công việc đã được thiết kế, từ đó đào tạo, tạo động lực và đánh giá họ trong quá trình làm việc, đồng thời phát triển các chính sách đãi ngộ để giữ chân và chuẩn bị nguồn lực con người lãnh đạo tổ chức trong tương lai”. Một cách tổng hợp và phù hợp nhất, nghiên cứu này sẽ sử dụng khái niệm quản trị nhân lực trong giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học lao động Xã Hội, TS Lê Thanh Hà chủ biên [5, tr10]: “Quản trị nhân lực là việc thiết kế, xây dựng hệ thống triết lý, chính sách và thực hiện các hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo- phát triển và duy trì nguồn lực con người trong một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức và người lao động”. Nhân tài Theo nghĩa hẹp, nhân tài là những người có trí tuệ, thể chất và hiệu quả làm việc vượt hơn hẳn những người khác và có những đóng góp đáng kể cho lĩnh vực mà họ tham gia.
Theo nghĩa rộng thì nhân tài là những người có đam mê, có ý muốn đóng góp, cống hiến cho xã hội bằng cả tất cả tài năng của mình, họ có hoặc sẽ có sự vượt hẳn những người khác về trí tuệ, thể chất và hiệu quả làm việc. Trong thực tế, mỗi một doanh nghiệp với loại hình đặc thù khác nhau có những quan niệm, những góc nhìn khác nhau về nhân tài. 10 Ông Vũ Minh Trí – GĐĐH Microsoft Việt Nam cho rằng với Microsoft thì nhân tài là những người giỏi có nhiều kinh nghiệm xuất sắc phù hợp với công ty và những người trẻ có khả năng học hỏi, thích ứng nhanh. Nhưng theo một góc nhìn khác, đặc thu doanh nghiệp khác, bà Nguyễn Tâm Thanh - Giám đốc nhân lực của Cargill Việt Nam (công ty thuộc ngành Nông nghiệp / Thức Ăn gia súc) xác định nhân tài là đối tượng có khả năng gắn bó lâu dài với công ty.
Bà quan niệm “Nhân tài phải là những người gắn bó lâu dài với nghề này, cảm nhận được sự đóng góp của mình vào việc cùng phát triển, giúp đỡ để đem lại sự thay đổi trong cuộc sống của những người chăn nuôi.” Tuy nhiên, với “Lý thuyết Nhân tài 3C”, Dave Ulrich - Giáo sư Đại học Michigan (Hoa Kỳ) đã vẽ lại một cách hoàn hảo chân dung người tài của thời đại mới. Dưới góc nhìn của ông, “giỏi” mới chỉ là điều kiện cần, một người muốn trở thành “nhân tài” thực thụ thì còn phải hội tụ nhiều yếu tố khác. Một “người giỏi” sẽ không thể là “người tài” khi cái “giỏi” là trời phú và chỉ nằm im ở dạng tiềm năng, không được trưng dụng để tạo ra giá trị. Nghĩa là, một người dù thông minh, có tố chất nhưng không chịu làm hoặc không biết cách làm thì vẫn bị coi là không có giá trị.
Ngược lại, cũng có những người giỏi, tạo ra nhiều giá trị nhưng gây ra không ít hệ lụy, phiền toái thì cũng không thể gọi là “nhân tài”, là “nguyên khí” của tổ chức được. Theo ông, nhân tài được tạo lên từ ba yếu tố: năng lực, cam kết và cống hiến “Talent = Competence *Commitment *Contribution”. Trong đó năng lực -competence được xét trên phương diện có kiến thức, kĩ năng và giá trị phù hợp với công việc của hôm nay và trong tương lai. Năng lực liên quan tới 3 “đúng”: kỹ năng đúng, vị trí đúng và công việc đúng.
Cam kết - commitment là ý chí làm việc, sẵn sàng hết mình cho sự thành công của công ty. Và Cống hiến - contribution là sự đóng góp cho tổ chức, ý thức được ý nghĩa và mục đích của công việc mình làm. Như vậy, có nhiều quan niệm về nhân tài, mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau có những quan điểm khác nhau. Trong luận văn này, nhân tài sẽ được nghiên cứu trên quan điểm là những người không chỉ có năng lực, khả năng làm việc còn là người phù hợp với văn hoá, đặc thù của doanh nghiệp, có ý chí và mục đích được thể hiện qua kết quả công việc, tinh thần làm việc và sự cống hiến cho doanh nghiệp.
Thu hút nhân tài và chính sách thu hút nhân tài Trước tiên, thu hút (theo Wiktionary Tiếng Việt) được hiểu là lôi cuốn, tạo ấn tượng mạnh mẽ để người khác quan tâm và dồn mọi sự chú ý vào. Trong quản trị nhân lực, thu hút là cung cấp cho người lao động một môi trường làm việc chất lượng, những cơ hội, lợi ích cạnh tranh. Và theo Jane Kennelly, thu hút nhân tài ngày nay không chỉ là quảng cáo tuyển dụng mà là xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng để hấp dẫn người tài. Như vậy thu hút nhân tài là một hoạt động trong quản lý nhân tài.Trong đó sử dụng các biện pháp phù hợp để thu hút được những người có kinh nghiệm, kỹ năng xuất sắc về làm việc ở một vị trí thích hợp trong doanh nghiệp.
Cụ thể hơn, chính sách thu hút nhân tài trong nghiên cứu này học viên muốn đề cập đến là việc xây dựng những cơ chế, chính sách về lương bổng, đào tạo phát triển, xây dựng một môi trường làm việc cũng như văn hoá doanh nghiệp hấp dẫn đáp ứng được những kỳ vọng của người lao động. Đồng thời xây dựng chính sách truyền thông để quảng bá những những yếu tố hấp dẫn này, chính sách tuyển dụng để dễ dàng tuyển được những người lao động phù hợp có tài năng, có tâm huyết gắn bó và cống hiến cho doanh nghiệp.