Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC 1. Khái quát về chiến lược Thuật ngữ “chiến lược” xuất phát từ lĩnh vực quân sự từ xa xưa, với ý nghĩa là một “khoa học về hoạch định và điều khiển các hoạt động quân sự”, sau đó được ứng dụng vào kinh doanh và các lĩnh vực khác. Quan điểm truyền thống về chiến lược Giáo sư Alfred Chandler thuộc Đại học Harvard cho rằng: “Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”.Glueck “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”. [27, 38] Quan điểm hiện đại về chiến lược Theo Henry Mintzberg thì chiến lược là một mô thức bao gồm một loạt những quyết định và hành động.
Mô thức đó là một sản phẩm kết hợp giữa chiến lược có chủ định và chiến lược phát khởi ngoài dự kiến ban đầu của nhà hoạch định chiến lược. [10, 192] Theo quan điểm hiện đại, nội dung khái niệm chiến lược có thể bao gồm “5P” kế hoạch (Plan), mưu lược (Ploy), mô thức/dạng thức (Pattern), vị thế (Position) và triển vọng (Perspective) mà công ty có được hoặc muốn đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh. 123doc 5 Từ những quan điểm trên, có thể rút ra điểm cốt lõi là: chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, trong đó xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của một doanh nghiệp (một tổ chức), là sự lựa chọn các đường lối hoạt động và các chính sách điều hành và bố trí các nguồn lực để đạt các mục tiêu một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững. Từ định nghĩa trên, cho thấy để xây dựng một chiến lược thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp đòi hỏi: • Phải xác định chính xác các mục tiêu dài hạn trên cơ sở dự báo xu hướng thu hút vốn đầu tư và môi trường đầu tư.
Mục tiêu chiến lược phải thể cụ thể, có tính hiện thực, và đo lường được; • Phải phân tích có chọn lựa hợp lý các đường lối hoạt động, xây dựng hệ thống chính sách điều hành và tìm kiếm những phương pháp kích thích tốt nhất để sử dụng và bố trí nguồn lực nhằm tạo ra hợp lực từ hệ thống các hoạt động, tăng lợi thế cạnh tranh; • Phải nhạy bén nắm lấy mọi lợi thế trong tình huống thu hút đầu tư và luôn theo dõi mọi hoạt động thu hút nhằm đảm bảo ưu thế bền vững đối với các đối thủ cạnh tranh hiện nay và các đối thủ cạnh tranh tiềm năng; • Chiến lược thu hút vốn đầu tư phải được xây dựng cho thời gian 5 năm, 10 năm, 20 năm. Vì vậy các chính sách điều hành phải nhất quán, song phương pháp kích thích phải linh hoạt và thích ứng trước những tình huống đặt ra. Các loại chiến lược Có 3 loại chiến lược được áp dụng cho một tổ chức: (1) - chiến lược cấp công ty, (2) - chiến lược cấp cơ sở và (3) - chiến lược bộ phận chức năng. Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, dưới đây luận văn chỉ trình bày các lý thuyết liên quan đến chiến lược cấp công ty, là cấp chiến lược liên quan trực tiếp đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn.
Chiến lược cấp công ty Căn cứ vào diễn tiến trình tăng trưởng và phát triển của công ty, chúng ta có thể phân loại các chiến lược công ty làm 3 loại theo trình tự sau: (1) - ban đầu, công ty áp dụng chiến lược tập trung để hoạt động trong một ngành kinh doanh duy nhất và trong khuôn khổ một thị trường nội địa đơn thuần; (2) - công ty đủ mạnh để áp dụng chiến lược hội nhập theo chiều dọc hoặc bành trướng ra thế giới bên ngoài để tạo ưu thế cạnh tranh của mình trong lĩnh vực kinh doanh chính; (3) - công ty đã chiếm được nhiều ưu thế cạnh tranh và muốn tìm thêm cơ hội kinh doanh ngoài các hoạt động chính bằng cách áp dụng chiến lược đa dạng hóa để đầu tư vốn thặng dư của công ty. [12,189] Các chiến lược tập trung Các chiến lược tăng trưởng tập trung trong hoạt động kinh doanh chính thường được áp dụng trong thị trường nội địa. Để tối đa hóa doanh thu, công ty phải tìm cách hạ giá phí, chuyên biệt hóa sản phẩm hoặc chuyên tâm vào một phân khúc thị trường. Các chiến lược tập trung gồm 3 loại, mỗi loại sẽ căn cứ vào 5 yếu tố để đánh giá là: sản phẩm; thị trường; ngành kinh doanh; cấp độ hoặc quy mô ngành nghề và công nghệ áp dụng.
Các 3 loại chiến lược tăng trưởng tập trung là: • Chiến lược tăng trưởng tập trung vào cơ hội thâm nhập thị trường: Tất cả 5 yếu tố để đánh giá đều căn cứ vào tình trạnh hiện hữu mà doanh nghiệp đã sẵn có. • Chiến lược tăng trưởng tập trung vào cơ hội phát triển thị trường: Với chiến lược này, doanh nghiệp đưa ra một sản phẩm hiện hữu vào thị trường mới ngoài thị trường vốn có. Các yếu tố khác (ngành, cấp ngành và công nghệ) vẫn giữ nguyên hiện trạng. • Chiến lược tăng trưởng tập trung vào cơ hội phát triển sản phẩm mới: Với chiến lược này, doanh nghiệp muốn đưa một sản phẩm mới khác vào thị trường vốn có, các yếu tố khác vẫn không thay đổi.1: Tóm lược các loại chiến lược tập trung Chiến lược tập trung Sản phẩm Thị trường Ngành KD Cấp ngành Công nghệ Thâm nhập thị trường Hiện hữu Hiện hữu Hiện hữu Hiện hữu Hiện hữu Phát triển thị trường Hiện hữu Mới Hiện hữu Hiện hữu Hiện hữu Phát triển sản phẩm mới Mới Hiện hữu Hiện hữu Hiện hữu Hiện hữu Nguồn: Nguyễn Tấn Phước (1999), Quản trị Chiến lược và Chính sách kinh doanh [14, 192] Lợi thế của các chiến lược tập trung là dồn sức lực của công ty vào hoạt động sở trường của mình, khai thác các điểm mạnh nổi bật để phát triển kinh doanh hiện hữu nhất.
Tuy nhiên, mặt hạn chế bất lợi của các chiến lược tập trung là bỏ lỡ những cơ hội bành trướng thị trường, hoặc không tận dụng hết những tính năng nổi bật của mình để nắm bắt những cơ hội phát triển trong các ngành nghề khác. Các chiến lược hội nhập theo chiều dọc Hội nhập theo chiều dọc là công ty tự sản xuất lấy các đầu vào hoặc tự lo liệu các đầu vào, ra của chính mình. Có 3 cách để phân biệt các loại chiến lược hội nhập dọc, cụ thể: Căn cứ vào tiến trình hội nhập chia làm 2 loại: Chiến lược tăng trưởng hội nhập dọc ngược chiều là công ty tự lo liệu hoặc tự sản xuất lấy các tư liệu sản xuất tạo thành đầu vào của mình. Chiến lược tăng trưởng hội nhập thuận chiều là công ty tự lo liệu hoặc tự tổ chức mạng phân phối các thành phẩm của mình.
Căn cứ vào mức độ hội nhập chia làm 2 loại: Chiến lược hội nhập toàn diện là công ty tự đứng ra sản xuất tất cả đầu vào hoặc tự đảm đượng tất cả đầu ra. Chiến lược hội nhập một phần là công ty chỉ chủ động tham gia một phần nào đó của đầu vào hoặc đầu ra của mình. Căn cứ vào phạm vi hội nhập chia làm 2 loại: Chiến lược hội nhập trong nội bộ là bằng cách thành lập công ty con được tách ra từ công ty gốc (công ty mẹ). Chiến 123doc 8 Động cơ thúc đẩy một công ty theo đuổi chiến lược hội nhập dọc là nhằm củng cố vị thế cạnh tranh của hoạt động chính, qua đó công ty có được 4 lợi thế bổ sung: tiết kiệm chi phí sản xuất; giảm thiểu chi phí thị trường; kiểm soát hoặc quản trị chất lượng tốt hơn; bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp hữu hiệu hơn.
Các lợi thế bổ sung trên đây giúp công ty vận dụng các chiến lược hội nhập một cách tốt nhất để hướng vào giá thành đối vối giá thành đơn vị sản phẩm thật thấp nhằm chinh phục các khách hàng nhạy cảm với giá. Tuy nhiên, các chiến lược hội nhập theo chiều dọc cũng có những bất lợi sau đây: bất lợi về chi phí tiềm tàng; bất lợi vì những thay đổi nhanh chóng trong kỹ thuật công nghệ hiện nay; bất lợi do sự bất trắc của nhu cầu. Các chiến lược đa dạng hóa Đa dạng hóa là đầu tư vốn thặng dư vào nhiều ngành nghề khác nhau sau khi công ty đã chiếm được nhiều ưu thế cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh hiện nay của công ty. Phần lớn các công ty bắt đầu nghĩ đến việc đa dạng hóa khi họ đã tạo được nguồn lực tài chính thặng dư vượt quá mức vốn cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh trong hoạt động nguyên thủy hoặc cốt lõi của họ.
Vấn đề đặt ra là cần phải chọn phương án đầu tư nào là hữu hiệu nhất. Có 2 loại chiến lược đa dạng hóa là: • Đa dạng hóa tương quan hoặc liên kết là tham gia vào một hoạt động mới nối kết với hoạt động hiện hữu của công ty về một hoặc một số khâu như: sản xuất, marketing, quản trị vật tư hoặc kỹ thuật công nghệ. • Đa dạng hóa không tương quan hoặc không liên kết là tham gia vào một hoạt động mới không có sự nối kết nào rõ ràng với bất cứ hoạt động hiện hữu nào. Do đó, một công ty nên áp dụng chiến lược đa dạng hóa liên kết khi: (1) - có những điểm chung nhất đáng kể trong một vài chức năng giữa các lĩnh vực hoạt động 123doc 9 Đối với một công ty không đạt được các yêu cầu trên thì hình thức đa dạng hóa liên kết không thể sinh lợi hơn việc áp dụng hình thức đa dạng hóa không liên kết.
Chiến lược cấp đơn vị và chiến lược bộ phận chức năng Ngoài chiến lược tổng thể cấp công ty, một công ty đa ngành còn có 2 cấp chiến lược khác là chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược cấp chức năng. Hai cấp chiến lược sau luôn gắn bó mật thiết trong mọi doanh nghiệp hoặc công ty đơn ngành nào. Nói một cách khác, các chiến lược cấp chức năng cần phải đồng bộ với các chiến lược cấp doanh nghiệp. Một số chiến lược cấp chức năng tiêu biểu như: chiến lược sản xuất; chiến lược tiếp thị; chiến lược quản lý vật tư; chiến lược tài chính kế toán; chiến lược nghiên cứu và phát triển; chiến lược nhân sự; chiến lược thông tin… [14, 271] 1.
Quy trình hoạch định chiến lược 1.